Một số biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN THẾ TRƢỜNG TIỂU HỌC HƢƠNG VĨ BIỆN PHÁP THI GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP GIỎI CHU KỲ 2022-2024 BIỆN PHÁP “ Một số biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học” Họ và tên tác giả: Vƣơng Thị Tuyết Phƣợng Đơn vị công tác: Trƣờng Tiểu học Hƣơng Vĩ XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƢỜNG NGƢỜI VIẾT SÁNG KIẾN Nguyễn Thị Việt Vƣơng Thị Tuyết Phƣợng Hương Vĩ, tháng 4 năm 2024 2 MỤC LỤC I. PHẦN MỞ ĐẦU Trang 1. Lý do chọn biện pháp/tên biện pháp 3 2. Mục đích nghiên cứu 3 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4 5. Phương pháp nghiên cứu 4 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4 1. Cơ sở lý luận 4 2. Cơ sở thực tiễn 4 3. Các biện pháp 5 3.1. Biện pháp1: Nắm bắt được thông tin, tình hình cụ thể của từng 4 đối tượng học sinh. Quan tâm tới học sinh bằng tình yêu thương thật sự. 3.2. Biện pháp 2: Giáo dục đạo đức cho học sinh qua lí thuyết kết 6 hợp với thực hành. Giáo viên phải là tấm gương sáng để học sinh noi theo 3.3. Biện pháp 3: Việc giáo dục đạo đức cho học sinh là rất quan 7 trọng. Vì vậy mỗi thầy giáo, cô giáo đều phải hết sức quan tâm, 8 giáo dục đạo đức cho học sinh lồng ghép qua các bài học. 9 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 9 10 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 11 3 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn tên biện pháp + Trong thời gian sử dụng giải pháp cũ học sinh chưa thực sự nắm được những hành vi đúng chuẩn mực. + Thời lượng chỉ 1 tiết / tuần nên nội dung lồng ghép chưa được phong phú. Học sinh chủ yếu được giáo viên truyền tải những kiến thức về đạo đức thông qua lí thuyết ít được thực hành xử lí các tình huống cụ thể trong cuộc sống. + Nội dung lồng ghép chưa đa dạng phong phú. Học sinh chưa thực sự chủ động, mạnh dạn đưa ra các cách xử lí tình huống. Còn hạn chế khi giao tiếp hợp tác xử lí các tình huống trong bài học. 2. Mục đích nghiên cứu Năm học 2023 – 2024 tôi được phân công chủ nhiệm lớp 2C. Với tổng số học sinh là 34 em trong đó có 16 nữ, 18 nam, 4 dân tộc. Số lượng học sinh khá đông. - Trên địa bàn chủ yếu người dân sản xuất nông nghiệp, những phụ huynh học sinh đi làm công ty nên ít có thời gian dạy dỗ, chỉ bảo con. - Lớp có 2 học sinh thuộc hộ nghèo, 1 em mồ côi cha hoàn cảnh gia đình khó khăn. Nhiều em bố mẹ đi làm xa nhà nên ở cùng ông bà, nhiều khi chưa được quan tâm kịp thời. Qua tìm hiểu về tình hình của 34 em học sinh lớp 2C trường Tiểu học Hương Vỹ, tôi đưa ra một số giải pháp để giáo dục đạo đức, lối sống lành mạnh cho các em học sinh ngay từ khi còn nhỏ. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Trong những năm công tác tại trường, tôi được phân công làm công tác chủ nhiệm với số lượng học sinh khá đông và có nhiều học sinh đặc biệt. Tôi thấy việc dạy cho học sinh kiến thức hàng ngày thì việc giáo dục đạo đức cũng vô cùng quan trọng. Những năm gần đây, vấn đề giáo dục đạo đức học sinh được các nhà trường đặc biệt quan tâm, cũng có rất nhiều chỉ đạo về việc giáo dục đạo đức học sinh được áp dụng và mang lại nhiều hiệu quả nhưng vấn đề đạo đức học sinh hiện nay vẫn còn là nỗi băn khoăn của xã hội.Vì những lý do trên nên tôi nghiên cứu để tìm ra biện pháp: “Nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học” nhằm khắc phục những hạn chế đã nêu trên; giúp học sinh chăm ngoan, biết vâng lời, kính trọng thầy 4 cô giáo, luôn đoàn kết, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Giáo viên tích lũy được một số kinh nghiệm cần thiết trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh lớp mình chủ nhiệm nói riêng và cho học sinh tiểu học nói chung. Có nhận thức đúng về vai trò của giáo viên là phải có trách nhiệm giáo dục đạo đức cho học sinh. Ngoài ra, những biện pháp này còn giúp giáo viên vận dụng vào việc giáo dục học sinh theo hướng tích cực, tạo mối quan hệ thân thiện giữa giáo viên và học sinh, giữa giáo viên với phụ huynh học sinh, giữa nhà trường và xã hội. Góp phần vào việc thay thế hình thức giáo dục theo lối cũ bằng những hình thức giáo dục theo hướng tích cực hơn. 4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu Học sinh lớp 2C . 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu tài liệu. Phương pháp điều tra khảo sát thực tế. Phương pháp tổng hợp thống kê. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Từ xưa ông cha ta đã đúc kết một câu rất sâu sắc kinh nghiệm giáo dục “ Tiên học lễ, hậu học văn” , “Lễ” ở đây chính là nền tảng của sự lĩnh hội và phát triển tốt các tri thức và kĩ năng. Ngày nay với phương châm “ Dạy người, dạy chữ, dạy nghề” cũng thể hiện rõ vai trò của giáo dục đạo đức cho học sinh. Đối với học sinh Tiểu học, đây là giai đoạn các em phát triển về mọi mặt. Như chúng ta đã biết, nhiệm vụ giáo dục là đào tạo con người. Giáo viên là những người lái đò âm thầm đưa những thế hệ học sinh cập bến tương lai. Để đào tạo những con người có ích cho xã hội cần có vai trò to lớn của ngừơi thầy. Giáo dục đạo đức là một nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên chủ nhiệm lớp. Chính vì vậy tôi đã nghiên cứu và đưa ra một số biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học. 2. Cơ sở thực tiễn - Kiến thức để xây dựng chuẩn mực cho học sinh còn hạn chế. Nguồn cung cấp kiến thức chủ yếu là sách giáo khoa và giáo viên. - Về phía học sinh, vì còn nhỏ nên khi phát ngôn còn sử dụng những từ ngữ chưa phù hợp.. Trong giờ học chưa thực sự nghiêm túc, thiếu tinh thần trách nhiệm trong học tập và việc làm của mình. 5 3. Các biện pháp - Nội dung: Để góp phần đạt hiệu quả cao trong công tác giáo dục đạo đức học sinh, tôi đã thực hiện những biện pháp sau: Biện pháp1: Nắm bắt được thông tin, tình hình cụ thể của từng đối tượng học sinh. Quan tâm tới học sinh bằng tình yêu thương thật sự. Biện pháp 2: Giáo dục đạo đức cho học sinh qua lí thuyết kết hợp với thực hành. Giáo viên phải là tấm gương sáng để học sinh noi theo. Biện pháp 3: Việc giáo dục đạo đức cho học sinh là rất quan trọng. Vì vậy mỗi thầy giáo, cô giáo đều phải hết sức quan tâm, giáo dục đạo đức cho học sinh lồng ghép qua các bài học. - Các bƣớc tiến hành thực hiện giải pháp (cần minh họa bằng các bản vẽ, thiết kế, sơ đồ, ảnh chụp mẫu sản phẩm, đĩa, bảng biểu, số liệu: .) 3.1. Biện pháp1: Nắm bắt được thông tin, tình hình cụ thể của từng đối tượng học sinh. Quan tâm tới học sinh bằng tình yêu thương thật sự. Ngay từ khi mới được nhận lớp, giáo viên phải nắm bắt được điều kiện, hoàn cảnh từng học sinh qua kê khai lý lịch, trò chuyện thường xuyên với các em, qua bạn bè, phụ huynh, giáo viên dạy năm trước...để có biện pháp giáo dục hợp lý, phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh của các em. Bởi vì muốn giáo dục tốt một người thì trước hết, ta phải hiểu rõ người đó. Khi hiểu hoàn cảnh của các em rồi, người giáo viên mới gần gũi, gắn bó với các em hơn, các em không mặc cảm, tự ti. Giáo viên có thể tìm hiểu thêm những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt hơn so với những bạn khác trong lớp như có những em học sinh có hoàn cảnh khó khăn, nhà ở xa trường, mỗi ngày phải đi bộ không ai đưa rước... thỉnh thoảng lại đi học muộn, nếu ta không hiểu rõ lý do, hoàn cảnh của em mà lại lấy cương vị giáo viên la rầy, phạt em thì rất tội nghiệp vừa tạo khoảng cách giữa giáo viên và học sinh. Thay vì ta nên tìm hiểu kĩ nguyên nhân, thể hiện sự cảm thông, nhẹ nhàng xoa đầu, động viên em nên rút kinh nghiệm để lần sau đi học đúng giờ thì em sẽ càm thấy vui, tin tưởng vào giáo viên và sẽ cố gắng làm theo lời giáo viên đã khuyên. Tình cảm thầy trò thêm gắn bó hơn, góp phần quan trọng trong việc giáo dục đạo đức học sinh. Để làm được điều đó thì giáo viên phải thật sự quan tâm học sinh, hãy yêu thương học 6 sinh bằng tình yêu thương thật sự của mình chứ không phải chỉ làm cho xong bổn phận, trách nhiệm. Vì vậy mỗi giáo viên khi đã thật sự quan tâm học sinh, giành hết tình cảm để giúp các em tiến bộ hơn thì việc làm công tác chủ nhiệm sẽ tốt hơn rất nhiều. Bên cạnh đó nếu chúng ta thật lòng yêu thương học sinh và làm tốt công tác chủ nhiệm thì việc giáo dục đạo đức cho các em sẽ rất thuận lợi. Học sinh vững niềm tin, yêu trường, yêu lớp, coi lớp như tổ ấm gia đình, các em xem thầy cô như cha mẹ. Đón nhận các em bằng cả tấm lòng, bằng cả tình yêu thương tạo điều kiện để các em phát triển về năng lực, về nhân cách. Để các em sau này sẽ trở thành những công dân tốt, có ích cho gia đình, cho xã hội tránh có những suy nghĩ tiêu cực, sai trái về cuộc sống dẫn đến những hậu quả khó lường. 3.2. Biện pháp 2: Giáo dục đạo đức cho học sinh qua lí thuyết kết hợp với thực hành. Giáo viên phải là tấm gương sáng để học sinh noi theo Học sinh tiểu học còn là những đứa trẻ ngây thơ, những em học sinh này luôn nhìn vào những việc người lớn làm để học theo, nhưng lại chưa ý thức được việc đúng việc sai nên để định hướng tốt cho các em thì những người lớn xung quanh cần ý thức được việc giáo dục đạo đức cho con mình. Và khi tới trường, đối với học sinh tiểu học, thầy cô giáo luôn luôn là thần tượng của các em. Các em luôn để ý đến thầy cô từ cách ăn nói đến những cử chỉ hàng ngày. Hành vi ở trường của thầy cô tác động rất lớn đến việc hình thành nhân cách học sinh. “Tấm gương bao giờ cũng có giá trị hơn lời giáo huấn”. Nhưng hiện nay còn một số giáo viên quên đi việc “làm gương” cho học sinh, giáo dục học sinh thế này nhưng bản thân giáo viên làm ngược lại làm cho học sinh mất niềm tin, việc giáo dục trở nên phản tác dụng. Giáo viên thường nhắc nhở học sinh không làm việc riêng trong giờ, nhưng trong khi đó chính giáo viên lại đang làm việc riêng của mình. Giáo viên thường nhắc nhở học sinh ngồi im lặng khi dự lễ nhưng ở bên trên giáo viên lại nói chuyện riêng. Học sinh thấy thế sẽ nói chuyện hoặc đùa giỡn ngay. Giáo viên nhắc các em phải đi học đúng giờ, thực hiện tốt các nội quy của trường, lớp những giáo viên lại chưa thực hiện tốt. 7 Giáo viên yêu cầu học sinh đến lớp sớm 10 phút để truy bài đầu giờ nhưng giáo viên lại thường xuyên đi trễ. Chắc chắn sẽ có một số học sinh đi trễ hoặc lo chơi không truy bài với bạn. Từ đó, học sinh sẽ nhìn vào mỗi việc làm của giáo viên để đánh giá việc làm của mình. Học sinh sẽ luôn nghĩ mỗi việc thầy cô làm đều đúng vì vậy học sinh sẽ có cách ứng xử của bản thân.Vì vậy người giáo viên cần không ngừng tu dưỡng đạo đức, phải luôn là tấm gương sáng trong lời nói cũng như trong việc làm. Có như thế mới tạo được “chất men” thúc đẩy các em có những thái độ và hành vi tốt. Nếu giáo viên làm việc, sinh hoạt đúng giờ, cẩn thận, có tinh thần trách nhiệm, học sinh sẽ cố gắng được như vậy. Nếu giáo viên quan tâm bảo vệ môi trường, học sinh cũng sẽ quan tâm đến điều đó. Chúng ta luôn luôn lưu ý rằng giáo dục đạo đức không chỉ dừng ở việc hình thành thói quen mà điều chủ yếu là phải từ việc luyện thói quen hành vi đạo đức mà xây dựng được niềm tin đạo đức, làm cơ sở cho ứng xử thường xuyên của các em. Chúng ta thấy rằng việc giáo dục đạo đức cho học sinh không chỉ trên lí thuyết, qua lời nói mà còn phải gắn liền với thực hành, cử chỉ hành động hàng ngày để tu dưỡng, bồi đắp cho tâm hồn trẻ những đạo đức đẹp. 3.3.Biện pháp 3: Việc giáo dục đạo đức cho học sinh là rất quan trọng. Vì vậy mỗi thầy giáo, cô giáo đều phải hết sức quan tâm, giáo dục đạo đức cho học sinh lồng ghép qua các bài học. Việc học sinh đến trường mỗi ngày và luôn tư tưởng học sinh đến trường là để học chữ, học kiến thức. Nhưng bên cạnh việc truyền tải tới học sinh những kiến thức văn hóa cần thiết, thì giáo viên cũng cần phải kết hợp giáo dục đạo đức cho học sinh qua những bài học có liên quan. Ngay việc soạn giáo án hàng ngày, giáo viên cũng đã lồng ghép thêm phần giáo dục kĩ năng sống, giáo dục đạo đức cho học sinh qua mỗi nội dung bài học. Tuy vẫn biết việc “dạy chữ phải song song với dạy người” nhưng thực tế vẫn còn không ít người dạy vẫn “nặng về dạy chữ, nhẹ về dạy người”, chỉ lo truyền dạy kiến thức chuyên môn, không có thì giờ để uốn nắn, chỉnh sửa những sai trái của học sinh. Vẫn còn một số cán bộ giáo viên chỉ tập trung vào công tác chuyên môn, quan tâm đến kiến thức, kỹ năng cuối năm, coi đó là nhiệm vụ trọng tâm, nên chưa quan 8 tâm đúng mức đến công tác giáo dục đạo đức học sinh có khó khăn trong rèn luyện đạo đức, thậm chí coi giáo dục đạo đức là nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm và giáo viên dạy môn đạo đức. Có người còn cho rằng học sinh chỉ nghe lời giáo viên chủ nhiệm của mình thôi chứ không “sợ” những thầy cô khác nên việc nhắc nhở, uốn nắn, rèn đạo đức của học sinh... cứ để cho giáo viên chủ nhiệm lo. Trong giờ học Thể dục hay Mỹ thuật... có học sinh trốn học hoặc không chịu học, chọc phá bạn...thay vì giáo viên bộ môn ấy uốn nắn, giáo dục cho các em ngay nhưng giáo viên không làm thế, cứ mặc kệ các em, tiếp tục dạy cho xong bài rồi yêu cầu lớp trưởng về nói giáo viên chủ nhiệm giải quyết. Chúng ta nên nhớ rằng, khi dạy bất kì môn học nào người giáo viên đều làm nhiệm vụ giáo dục giá trị đạo đức. Bởi vì kiến thức trong môn học nào cũng có tính giáo dục cả nhưng đôi khi giáo viên lại chỉ quan tâm giáo dục đạo đức trong môn đạo đức, không biết lồng ghép trong mỗi bài học để định hướng tư tưởng, uốn nắn và rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh trong từng cử chỉ, hoạt động của các em. Ví dụ: * Môn Tiếng Việt: Qua các câu chuyện kể, bài văn, bài thơ... thuộc nhiều chủ điểm khác nhau, có nội dung phong phú. Giáo viên khai thác và tiến hành đúng đắn sẽ giáo dục, bồi dưỡng cho học sinh tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào dân tộc và kể cả các chuẩn mực sơ giản trong giao tiếp, ứng xử về đạo đức. * Các môn khác: Trong quá trình thảo luận nhóm, hướng dẫn học sinh làm bài từ dễ đến khó...giáo dục tinh thần đoàn kết, hợp tác, giúp nhau trong công việc, ý chí vượt khó, lòng yêu chân lý, yêu văn hóa, khoa học;... * Các hoạt động ngoài giờ lên lớp: Tổ chức tốt các hoạt động như thể dục thể thao, đền ơn đáp nghĩa, các chủ điểm trong năm... giáo dục các em ý thức tiết kiệm, lòng từ thiện, yêu thương giúp đỡ mọi người, tinh thần đoàn kết, hỗ trợ nhau vượt qua khó khăn, uống nước nhớ nguồn;... * Chào cờ đầu tuần: Thông qua việc đánh giá hoạt động đã thực hiện trong tuần của Đội, của nhà trường, các mặt làm tốt và tồn tại, nêu những gương tốt... Ban giám hiệu và Tổng phụ trách trực tiếp giáo dục đạo đức học sinh sẽ rất hiệu quả; 9 * Phong trào Đội là thu hút được nhiều học sinh nhất, ở đây học sinh được rèn luyện, vui chơi trong một tập thể đầy tình thương của bạn bè, thầy cô. Hoạt động Đội là hoạt động phong trào, phong phú và nhiều hình thức, mang tính trực quan sinh động phù hợp với lứa tuổi học sinh tiểu học và có sức thu hút học sinh. Do đó, Tổng phụ trách với các hoạt động Đội luôn mang tính giáo dục cao và đầy hiệu quả. Đã đến lúc thay vì dạy học sinh học những bài học đạo đức xa vời, chúng ta cần giáo dục cho các em về lòng nhân ái, bao dung, độ lượng hay giáo dục các em về các chuẩn mực đạo đức trong quan hệ xã hội. Mỗi giáo viên phải ý thức được trách nhiệm của bản thân, cùng tìm ra các hình thức dạy học, sinh hoạt hiệu quả, tạo sân chơi lành mạnh cho học sinh. Xây dựng môi trường giáo dục tốt để học sinh được học tập và rèn luyện trở thành những công dân có đức, có tài. Ngoài các biện pháp trên, ta còn có thể: Giáo dục đạo đức học sinh thông qua phối hợp tốt “Gia đình - Nhà trường - Xã hội”, xây dựng tập thể lớp vững mạnh, đoàn kết, giúp đỡ nhau. III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG Sau gần một năm học, khi áp dụng biện pháp này, tôi thấy học sinh có sự tiến bộ rõ rệt, có nền nếp hơn, đa số các em đều chăm ngoan, thực hiện tốt nội qui nhà trường, có ý thức hơn trong nhiệm vụ học tập; các em biết được những việc nào nên làm, những việc nào không nên làm; học sinh tự tin, năng động, sáng tạo hơn trong các phong trào và hoạt động ngoại khóa. Các năng lực, phẩm chất học sinh được hình thành và phát triển trong quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động trải nghiệm cuộc sống trong và ngoài nhà trường luôn đạt một cách tốt nhất. Phụ huynh các em bắt đầu có quan tâm thiết thực đến việc học của các em và rất tin tưởng giáo viên, thường xuyên quan tâm liên lạc với giáo viên thăm hỏi về việc học của học sinh, luôn phối hợp tốt với nhà trường trong việc giáo dục con em họ. Được sự đồng tình của gia đình học sinh và xã hội. Công tác xã hội hóa giáo dục ngày càng hiệu quả. + Sản phẩm được tạo ra từ giải pháp (Tên, khối lượng, số lượng, thông số của sản phẩm). Qua việc khảo sát và đánh giá học sinh vào giữa học kì I và sau khi thực hiện giải pháp, tôi thu được kết quả như sau: 10 Nhóm Trước khi thực hiện Sau khi thực hiện giải giải pháp pháp Lớp 2C: sĩ số 34 HS Lớp 2C: sĩ số 34 HS Số học Tỉ lệ % Số học Tỉ lệ sinh sinh Nhóm 2: Tích cực, chủ 8 23,5% 15 44,1% động, mạnh dạn trong giao tiếp, chia sẻ ý kiến. Trung thực trong lời nói, luôn đoàn kết yêu thương giúp đỡ mọi người. Nhóm 1: Có nề nếp học 11 32,3% 18 52,9% tập, tự quản, hợp tác và tự học, tự giải quyết các vấn đề tốt Nhóm 3: Rụt rè, chưa 15 44,2% 1 3% mạnh dạn chia sẻ, cảm thông với bạn bè. Qua thời gian thực hiện học sinh đã có nề nếp hơn, nhiều học sinh ban đầu còn bướng, thực hiện những hành vi chưa đúng chuẩn mực nay đã có nhiều thay đổi. Khi áp dụng biện pháp này, tôi thấy học sinh có sự tiến bộ rõ rệt, có nền nếp hơn, đa số các em đều chăm ngoan, thực hiện tốt nội qui nhà trường, có ý thức hơn trong nhiệm vụ học tập, nhiều học sinh đầu năm khi mới nhận lớp còn là học sinh cá biết, phâm chất đạo đức còn sai lệch, nhưng khi được quan tâm, giáo dục đúng cách, những học sinh đó đã thay đổi. Biết phân biệt được những hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức. Tôi nghĩ biện pháp này áp dụng được cho tất cả các trường tiểu học trong tỉnh và có thể nhân rộng ra các tỉnh khác trong nước, không chỉ trong 11 năm học này mà còn có thể áp dụng trong nhiều năm tiếp theo, càng quan tâm và vận dụng sẽ có nhiều kinh nghiệm và khả năng thành công nhiều hơn IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Kết luận: Khi áp dụng biện pháp này tại sở tại tôi tin chắc rằng mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh sẽ càng được gắn chặt hơn. Học sinh sẽ càng được tu dưỡng thêm một tâm hồn đẹp, cách ứng xử đẹp, có đạo đức tốt và thêm phần tin tưởng hơn yêu quý thầy cô hơn.
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_giao_duc_dao_duc_cho_hoc_sinh_tieu_hoc.pdf



