Một số biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học

pdf11 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN THẾ 
 TRƢỜNG TIỂU HỌC HƢƠNG VĨ 
 BIỆN PHÁP THI GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP GIỎI 
 CHU KỲ 2022-2024 
 BIỆN PHÁP 
 “ Một số biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học” 
 Họ và tên tác giả: Vƣơng Thị Tuyết Phƣợng 
 Đơn vị công tác: Trƣờng Tiểu học Hƣơng Vĩ 
XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƢỜNG NGƢỜI VIẾT SÁNG KIẾN 
 Nguyễn Thị Việt Vƣơng Thị Tuyết Phƣợng 
 Hương Vĩ, tháng 4 năm 2024 2 
 MỤC LỤC 
I. PHẦN MỞ ĐẦU Trang 
1. Lý do chọn biện pháp/tên biện pháp 3 
2. Mục đích nghiên cứu 3 
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3 
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4 
5. Phương pháp nghiên cứu 4 
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4 
1. Cơ sở lý luận 4 
2. Cơ sở thực tiễn 4 
3. Các biện pháp 5 
3.1. Biện pháp1: Nắm bắt được thông tin, tình hình cụ thể của từng 4 
đối tượng học sinh. Quan tâm tới học sinh bằng tình yêu thương 
thật sự. 
3.2. Biện pháp 2: Giáo dục đạo đức cho học sinh qua lí thuyết kết 6 
hợp với thực hành. Giáo viên phải là tấm gương sáng để học sinh 
noi theo 
3.3. Biện pháp 3: Việc giáo dục đạo đức cho học sinh là rất quan 7 
trọng. Vì vậy mỗi thầy giáo, cô giáo đều phải hết sức quan tâm, 8 
giáo dục đạo đức cho học sinh lồng ghép qua các bài học. 9 
III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 9 
 10 
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 11 
 3 
 I. PHẦN MỞ ĐẦU 
 1. Lý do chọn tên biện pháp 
+ Trong thời gian sử dụng giải pháp cũ học sinh chưa thực sự nắm được những hành 
vi đúng chuẩn mực. 
+ Thời lượng chỉ 1 tiết / tuần nên nội dung lồng ghép chưa được phong phú. Học 
sinh chủ yếu được giáo viên truyền tải những kiến thức về đạo đức thông qua lí 
thuyết ít được thực hành xử lí các tình huống cụ thể trong cuộc sống. 
+ Nội dung lồng ghép chưa đa dạng phong phú. Học sinh chưa thực sự chủ động, 
mạnh dạn đưa ra các cách xử lí tình huống. Còn hạn chế khi giao tiếp hợp tác xử lí 
các tình huống trong bài học. 
 2. Mục đích nghiên cứu 
Năm học 2023 – 2024 tôi được phân công chủ nhiệm lớp 2C. Với tổng số học sinh 
là 34 em trong đó có 16 nữ, 18 nam, 4 dân tộc. Số lượng học sinh khá đông. 
- Trên địa bàn chủ yếu người dân sản xuất nông nghiệp, những phụ huynh học sinh 
đi làm công ty nên ít có thời gian dạy dỗ, chỉ bảo con. 
- Lớp có 2 học sinh thuộc hộ nghèo, 1 em mồ côi cha hoàn cảnh gia đình khó khăn. 
Nhiều em bố mẹ đi làm xa nhà nên ở cùng ông bà, nhiều khi chưa được quan tâm 
kịp thời. 
Qua tìm hiểu về tình hình của 34 em học sinh lớp 2C trường Tiểu học Hương Vỹ, 
tôi đưa ra một số giải pháp để giáo dục đạo đức, lối sống lành mạnh cho các em học 
sinh ngay từ khi còn nhỏ. 
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 
Trong những năm công tác tại trường, tôi được phân công làm công tác chủ nhiệm 
với số lượng học sinh khá đông và có nhiều học sinh đặc biệt. Tôi thấy việc dạy cho 
học sinh kiến thức hàng ngày thì việc giáo dục đạo đức cũng vô cùng quan trọng. 
Những năm gần đây, vấn đề giáo dục đạo đức học sinh được các nhà trường đặc biệt 
quan tâm, cũng có rất nhiều chỉ đạo về việc giáo dục đạo đức học sinh được áp dụng 
và mang lại nhiều hiệu quả nhưng vấn đề đạo đức học sinh hiện nay vẫn còn là nỗi 
băn khoăn của xã hội.Vì những lý do trên nên tôi nghiên cứu để tìm ra biện pháp: 
“Nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học” nhằm khắc phục 
những hạn chế đã nêu trên; giúp học sinh chăm ngoan, biết vâng lời, kính trọng thầy 
 4 
cô giáo, luôn đoàn kết, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Giáo viên tích lũy 
được một số kinh nghiệm cần thiết trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 
mình chủ nhiệm nói riêng và cho học sinh tiểu học nói chung. Có nhận thức đúng về 
vai trò của giáo viên là phải có trách nhiệm giáo dục đạo đức cho học sinh. Ngoài 
ra, những biện pháp này còn giúp giáo viên vận dụng vào việc giáo dục học sinh 
theo hướng tích cực, tạo mối quan hệ thân thiện giữa giáo viên và học sinh, giữa 
giáo viên với phụ huynh học sinh, giữa nhà trường và xã hội. Góp phần vào việc 
thay thế hình thức giáo dục theo lối cũ bằng những hình thức giáo dục theo hướng 
tích cực hơn. 
 4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 
 Học sinh lớp 2C . 
 5. Phƣơng pháp nghiên cứu 
 Phương pháp nghiên cứu tài liệu. 
 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế. 
 Phương pháp tổng hợp thống kê. 
 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
 1. Cơ sở lý luận 
 Từ xưa ông cha ta đã đúc kết một câu rất sâu sắc kinh nghiệm giáo dục “ Tiên 
học lễ, hậu học văn” , “Lễ” ở đây chính là nền tảng của sự lĩnh hội và phát triển tốt 
các tri thức và kĩ năng. Ngày nay với phương châm “ Dạy người, dạy chữ, dạy 
nghề” cũng thể hiện rõ vai trò của giáo dục đạo đức cho học sinh. 
 Đối với học sinh Tiểu học, đây là giai đoạn các em phát triển về mọi mặt. 
Như chúng ta đã biết, nhiệm vụ giáo dục là đào tạo con người. Giáo viên là những 
người lái đò âm thầm đưa những thế hệ học sinh cập bến tương lai. Để đào tạo 
những con người có ích cho xã hội cần có vai trò to lớn của ngừơi thầy. Giáo dục 
đạo đức là một nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên chủ nhiệm lớp. Chính vì 
vậy tôi đã nghiên cứu và đưa ra một số biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh 
Tiểu học. 
 2. Cơ sở thực tiễn 
 - Kiến thức để xây dựng chuẩn mực cho học sinh còn hạn chế. Nguồn cung 
cấp kiến thức chủ yếu là sách giáo khoa và giáo viên. 
 - Về phía học sinh, vì còn nhỏ nên khi phát ngôn còn sử dụng những từ ngữ 
chưa phù hợp.. Trong giờ học chưa thực sự nghiêm túc, thiếu tinh thần trách nhiệm 
trong học tập và việc làm của mình. 
 5 
 3. Các biện pháp 
- Nội dung: Để góp phần đạt hiệu quả cao trong công tác giáo dục đạo đức học sinh, 
tôi đã thực hiện những biện pháp sau: 
Biện pháp1: Nắm bắt được thông tin, tình hình cụ thể của từng đối tượng học sinh. 
Quan tâm tới học sinh bằng tình yêu thương thật sự. 
Biện pháp 2: Giáo dục đạo đức cho học sinh qua lí thuyết kết hợp với thực hành. 
Giáo viên phải là tấm gương sáng để học sinh noi theo. 
Biện pháp 3: Việc giáo dục đạo đức cho học sinh là rất quan trọng. Vì vậy mỗi thầy 
giáo, cô giáo đều phải hết sức quan tâm, giáo dục đạo đức cho học sinh lồng ghép 
qua các bài học. 
 - Các bƣớc tiến hành thực hiện giải pháp (cần minh họa bằng các bản vẽ, thiết 
kế, sơ đồ, ảnh chụp mẫu sản phẩm, đĩa, bảng biểu, số liệu: .) 
3.1. Biện pháp1: Nắm bắt được thông tin, tình hình cụ thể của từng đối tượng 
học sinh. Quan tâm tới học sinh bằng tình yêu thương thật sự. 
 Ngay từ khi mới được nhận lớp, giáo viên phải nắm bắt được điều kiện, hoàn 
cảnh từng học sinh qua kê khai lý lịch, trò chuyện thường xuyên với các em, qua bạn 
bè, phụ huynh, giáo viên dạy năm trước...để có biện pháp giáo dục hợp lý, phù hợp với 
từng điều kiện, hoàn cảnh của các em. Bởi vì muốn giáo dục tốt một người thì trước 
hết, ta phải hiểu rõ người đó. Khi hiểu hoàn cảnh của các em rồi, người giáo viên mới 
gần gũi, gắn bó với các em hơn, các em không mặc cảm, tự ti. 
 Giáo viên có thể tìm hiểu thêm những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt hơn so 
với những bạn khác trong lớp như có những em học sinh có hoàn cảnh khó khăn, 
nhà ở xa trường, mỗi ngày phải đi bộ không ai đưa rước... thỉnh thoảng lại đi học 
muộn, nếu ta không hiểu rõ lý do, hoàn cảnh của em mà lại lấy cương vị giáo viên la 
rầy, phạt em thì rất tội nghiệp vừa tạo khoảng cách giữa giáo viên và học sinh. Thay 
vì ta nên tìm hiểu kĩ nguyên nhân, thể hiện sự cảm thông, nhẹ nhàng xoa đầu, động 
viên em nên rút kinh nghiệm để lần sau đi học đúng giờ thì em sẽ càm thấy vui, tin 
tưởng vào giáo viên và sẽ cố gắng làm theo lời giáo viên đã khuyên. Tình cảm thầy 
trò thêm gắn bó hơn, góp phần quan trọng trong việc giáo dục đạo đức học sinh. Để 
làm được điều đó thì giáo viên phải thật sự quan tâm học sinh, hãy yêu thương học 
 6 
sinh bằng tình yêu thương thật sự của mình chứ không phải chỉ làm cho xong bổn 
phận, trách nhiệm. 
 Vì vậy mỗi giáo viên khi đã thật sự quan tâm học sinh, giành hết tình cảm để 
giúp các em tiến bộ hơn thì việc làm công tác chủ nhiệm sẽ tốt hơn rất nhiều. Bên 
cạnh đó nếu chúng ta thật lòng yêu thương học sinh và làm tốt công tác chủ nhiệm 
thì việc giáo dục đạo đức cho các em sẽ rất thuận lợi. Học sinh vững niềm tin, yêu 
trường, yêu lớp, coi lớp như tổ ấm gia đình, các em xem thầy cô như cha mẹ. Đón 
nhận các em bằng cả tấm lòng, bằng cả tình yêu thương tạo điều kiện để các em 
phát triển về năng lực, về nhân cách. Để các em sau này sẽ trở thành những công 
dân tốt, có ích cho gia đình, cho xã hội tránh có những suy nghĩ tiêu cực, sai trái về 
cuộc sống dẫn đến những hậu quả khó lường. 
 3.2. Biện pháp 2: Giáo dục đạo đức cho học sinh qua lí thuyết kết hợp với thực 
hành. Giáo viên phải là tấm gương sáng để học sinh noi theo 
 Học sinh tiểu học còn là những đứa trẻ ngây thơ, những em học sinh này luôn 
nhìn vào những việc người lớn làm để học theo, nhưng lại chưa ý thức được việc 
đúng việc sai nên để định hướng tốt cho các em thì những người lớn xung quanh 
cần ý thức được việc giáo dục đạo đức cho con mình. Và khi tới trường, đối với học 
sinh tiểu học, thầy cô giáo luôn luôn là thần tượng của các em. Các em luôn để ý 
đến thầy cô từ cách ăn nói đến những cử chỉ hàng ngày. Hành vi ở trường của thầy 
cô tác động rất lớn đến việc hình thành nhân cách học sinh. “Tấm gương bao giờ 
cũng có giá trị hơn lời giáo huấn”. Nhưng hiện nay còn một số giáo viên quên đi 
việc “làm gương” cho học sinh, giáo dục học sinh thế này nhưng bản thân giáo viên 
làm ngược lại làm cho học sinh mất niềm tin, việc giáo dục trở nên phản tác dụng. 
 Giáo viên thường nhắc nhở học sinh không làm việc riêng trong giờ, nhưng 
trong khi đó chính giáo viên lại đang làm việc riêng của mình. 
 Giáo viên thường nhắc nhở học sinh ngồi im lặng khi dự lễ nhưng ở bên trên 
giáo viên lại nói chuyện riêng. Học sinh thấy thế sẽ nói chuyện hoặc đùa giỡn ngay. 
 Giáo viên nhắc các em phải đi học đúng giờ, thực hiện tốt các nội quy của 
trường, lớp những giáo viên lại chưa thực hiện tốt. 
 7 
 Giáo viên yêu cầu học sinh đến lớp sớm 10 phút để truy bài đầu giờ nhưng 
giáo viên lại thường xuyên đi trễ. Chắc chắn sẽ có một số học sinh đi trễ hoặc lo 
chơi không truy bài với bạn. 
 Từ đó, học sinh sẽ nhìn vào mỗi việc làm của giáo viên để đánh giá việc làm 
của mình. Học sinh sẽ luôn nghĩ mỗi việc thầy cô làm đều đúng vì vậy học sinh sẽ 
có cách ứng xử của bản thân.Vì vậy người giáo viên cần không ngừng tu dưỡng đạo 
đức, phải luôn là tấm gương sáng trong lời nói cũng như trong việc làm. Có như thế 
mới tạo được “chất men” thúc đẩy các em có những thái độ và hành vi tốt. Nếu giáo 
viên làm việc, sinh hoạt đúng giờ, cẩn thận, có tinh thần trách nhiệm, học sinh sẽ cố 
gắng được như vậy. Nếu giáo viên quan tâm bảo vệ môi trường, học sinh cũng sẽ 
quan tâm đến điều đó. Chúng ta luôn luôn lưu ý rằng giáo dục đạo đức không chỉ 
dừng ở việc hình thành thói quen mà điều chủ yếu là phải từ việc luyện thói quen 
hành vi đạo đức mà xây dựng được niềm tin đạo đức, làm cơ sở cho ứng xử thường 
xuyên của các em. Chúng ta thấy rằng việc giáo dục đạo đức cho học sinh không chỉ 
trên lí thuyết, qua lời nói mà còn phải gắn liền với thực hành, cử chỉ hành động hàng 
ngày để tu dưỡng, bồi đắp cho tâm hồn trẻ những đạo đức đẹp. 
3.3.Biện pháp 3: Việc giáo dục đạo đức cho học sinh là rất quan trọng. Vì vậy 
mỗi thầy giáo, cô giáo đều phải hết sức quan tâm, giáo dục đạo đức cho học sinh 
lồng ghép qua các bài học. 
 Việc học sinh đến trường mỗi ngày và luôn tư tưởng học sinh đến trường là để 
học chữ, học kiến thức. Nhưng bên cạnh việc truyền tải tới học sinh những kiến 
thức văn hóa cần thiết, thì giáo viên cũng cần phải kết hợp giáo dục đạo đức cho học 
sinh qua những bài học có liên quan. 
 Ngay việc soạn giáo án hàng ngày, giáo viên cũng đã lồng ghép thêm phần 
giáo dục kĩ năng sống, giáo dục đạo đức cho học sinh qua mỗi nội dung bài học. 
Tuy vẫn biết việc “dạy chữ phải song song với dạy người” nhưng thực tế vẫn còn 
không ít người dạy vẫn “nặng về dạy chữ, nhẹ về dạy người”, chỉ lo truyền dạy kiến 
thức chuyên môn, không có thì giờ để uốn nắn, chỉnh sửa những sai trái của học 
sinh. Vẫn còn một số cán bộ giáo viên chỉ tập trung vào công tác chuyên môn, quan 
tâm đến kiến thức, kỹ năng cuối năm, coi đó là nhiệm vụ trọng tâm, nên chưa quan 
 8 
tâm đúng mức đến công tác giáo dục đạo đức học sinh có khó khăn trong rèn luyện 
đạo đức, thậm chí coi giáo dục đạo đức là nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm và giáo 
viên dạy môn đạo đức. Có người còn cho rằng học sinh chỉ nghe lời giáo viên chủ 
nhiệm của mình thôi chứ không “sợ” những thầy cô khác nên việc nhắc nhở, uốn 
nắn, rèn đạo đức của học sinh... cứ để cho giáo viên chủ nhiệm lo. 
 Trong giờ học Thể dục hay Mỹ thuật... có học sinh trốn học hoặc không chịu 
học, chọc phá bạn...thay vì giáo viên bộ môn ấy uốn nắn, giáo dục cho các em ngay 
nhưng giáo viên không làm thế, cứ mặc kệ các em, tiếp tục dạy cho xong bài rồi yêu 
cầu lớp trưởng về nói giáo viên chủ nhiệm giải quyết. 
 Chúng ta nên nhớ rằng, khi dạy bất kì môn học nào người giáo viên đều làm 
nhiệm vụ giáo dục giá trị đạo đức. Bởi vì kiến thức trong môn học nào cũng có tính 
giáo dục cả nhưng đôi khi giáo viên lại chỉ quan tâm giáo dục đạo đức trong môn 
đạo đức, không biết lồng ghép trong mỗi bài học để định hướng tư tưởng, uốn nắn 
và rèn luyện hành vi đạo đức cho học sinh trong từng cử chỉ, hoạt động của các em. 
 Ví dụ: 
 * Môn Tiếng Việt: Qua các câu chuyện kể, bài văn, bài thơ... thuộc nhiều chủ 
điểm khác nhau, có nội dung phong phú. Giáo viên khai thác và tiến hành đúng đắn sẽ 
giáo dục, bồi dưỡng cho học sinh tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào dân tộc và 
kể cả các chuẩn mực sơ giản trong giao tiếp, ứng xử về đạo đức. 
 * Các môn khác: Trong quá trình thảo luận nhóm, hướng dẫn học sinh làm bài 
từ dễ đến khó...giáo dục tinh thần đoàn kết, hợp tác, giúp nhau trong công việc, ý 
chí vượt khó, lòng yêu chân lý, yêu văn hóa, khoa học;... 
 * Các hoạt động ngoài giờ lên lớp: Tổ chức tốt các hoạt động như thể dục thể 
thao, đền ơn đáp nghĩa, các chủ điểm trong năm... giáo dục các em ý thức tiết kiệm, 
lòng từ thiện, yêu thương giúp đỡ mọi người, tinh thần đoàn kết, hỗ trợ nhau vượt 
qua khó khăn, uống nước nhớ nguồn;... 
 * Chào cờ đầu tuần: Thông qua việc đánh giá hoạt động đã thực hiện trong tuần 
của Đội, của nhà trường, các mặt làm tốt và tồn tại, nêu những gương tốt... Ban giám 
hiệu và Tổng phụ trách trực tiếp giáo dục đạo đức học sinh sẽ rất hiệu quả; 
 9 
 * Phong trào Đội là thu hút được nhiều học sinh nhất, ở đây học sinh được rèn 
luyện, vui chơi trong một tập thể đầy tình thương của bạn bè, thầy cô. Hoạt động 
Đội là hoạt động phong trào, phong phú và nhiều hình thức, mang tính trực quan 
sinh động phù hợp với lứa tuổi học sinh tiểu học và có sức thu hút học sinh. Do 
đó, Tổng phụ trách với các hoạt động Đội luôn mang tính giáo dục cao và đầy hiệu 
quả. 
 Đã đến lúc thay vì dạy học sinh học những bài học đạo đức xa vời, chúng ta cần 
giáo dục cho các em về lòng nhân ái, bao dung, độ lượng hay giáo dục các em về các 
chuẩn mực đạo đức trong quan hệ xã hội. Mỗi giáo viên phải ý thức được trách nhiệm 
của bản thân, cùng tìm ra các hình thức dạy học, sinh hoạt hiệu quả, tạo sân chơi lành 
mạnh cho học sinh. Xây dựng môi trường giáo dục tốt để học sinh được học tập và 
rèn luyện trở thành những công dân có đức, có tài. 
 Ngoài các biện pháp trên, ta còn có thể: Giáo dục đạo đức học sinh thông qua 
phối hợp tốt “Gia đình - Nhà trường - Xã hội”, xây dựng tập thể lớp vững mạnh, 
đoàn kết, giúp đỡ nhau. 
 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 
 Sau gần một năm học, khi áp dụng biện pháp này, tôi thấy học sinh có sự tiến 
bộ rõ rệt, có nền nếp hơn, đa số các em đều chăm ngoan, thực hiện tốt nội qui nhà 
trường, có ý thức hơn trong nhiệm vụ học tập; các em biết được những việc nào nên 
làm, những việc nào không nên làm; học sinh tự tin, năng động, sáng tạo hơn trong 
các phong trào và hoạt động ngoại khóa. Các năng lực, phẩm chất học sinh được 
hình thành và phát triển trong quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động trải nghiệm 
cuộc sống trong và ngoài nhà trường luôn đạt một cách tốt nhất. Phụ huynh các em 
bắt đầu có quan tâm thiết thực đến việc học của các em và rất tin tưởng giáo viên, 
thường xuyên quan tâm liên lạc với giáo viên thăm hỏi về việc học của học sinh, 
luôn phối hợp tốt với nhà trường trong việc giáo dục con em họ. Được sự đồng tình 
của gia đình học sinh và xã hội. Công tác xã hội hóa giáo dục ngày càng hiệu quả. 
+ Sản phẩm được tạo ra từ giải pháp (Tên, khối lượng, số lượng, thông số của sản 
phẩm). Qua việc khảo sát và đánh giá học sinh vào giữa học kì I và sau khi thực 
hiện giải pháp, tôi thu được kết quả như sau: 
 10 
 Nhóm Trước khi thực hiện Sau khi thực hiện giải 
 giải pháp pháp 
 Lớp 2C: sĩ số 34 HS Lớp 2C: sĩ số 34 HS 
 Số học Tỉ lệ % Số học Tỉ lệ 
 sinh sinh 
Nhóm 2: Tích cực, chủ 8 23,5% 15 44,1% 
động, mạnh dạn trong 
giao tiếp, chia sẻ ý kiến. 
Trung thực trong lời 
nói, luôn đoàn kết yêu 
thương giúp đỡ mọi 
người. 
Nhóm 1: Có nề nếp học 11 32,3% 18 52,9% 
tập, tự quản, hợp tác và 
tự học, tự giải quyết các 
vấn đề tốt 
Nhóm 3: Rụt rè, chưa 15 44,2% 1 3% 
mạnh dạn chia sẻ, cảm 
thông với bạn bè. 
 Qua thời gian thực hiện học sinh đã có nề nếp hơn, nhiều học sinh ban đầu còn 
bướng, thực hiện những hành vi chưa đúng chuẩn mực nay đã có nhiều thay đổi. 
 Khi áp dụng biện pháp này, tôi thấy học sinh có sự tiến bộ rõ rệt, có nền nếp 
hơn, đa số các em đều chăm ngoan, thực hiện tốt nội qui nhà trường, có ý thức hơn 
trong nhiệm vụ học tập, nhiều học sinh đầu năm khi mới nhận lớp còn là học sinh cá 
biết, phâm chất đạo đức còn sai lệch, nhưng khi được quan tâm, giáo dục đúng cách, 
những học sinh đó đã thay đổi. Biết phân biệt được những hành vi ứng xử phù hợp 
với chuẩn mực đạo đức. Tôi nghĩ biện pháp này áp dụng được cho tất cả các trường 
tiểu học trong tỉnh và có thể nhân rộng ra các tỉnh khác trong nước, không chỉ trong 
 11 
năm học này mà còn có thể áp dụng trong nhiều năm tiếp theo, càng quan tâm và 
vận dụng sẽ có nhiều kinh nghiệm và khả năng thành công nhiều hơn 
 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 
 Kết luận: 
 Khi áp dụng biện pháp này tại sở tại tôi tin chắc rằng mối quan hệ giữa giáo 
viên và học sinh sẽ càng được gắn chặt hơn. Học sinh sẽ càng được tu dưỡng thêm 
một tâm hồn đẹp, cách ứng xử đẹp, có đạo đức tốt và thêm phần tin tưởng hơn yêu 
quý thầy cô hơn. 

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bien_phap_giao_duc_dao_duc_cho_hoc_sinh_tieu_hoc.pdf
Bài giảng liên quan