Giải pháp phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong phân môn Tập làm văm lớp 3
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giải pháp phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong phân môn Tập làm văm lớp 3, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP 1. Tên giải pháp: “Giải pháp phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong phân môn Tập làm văm lớp 3”. 2. Ngày giải pháp được áp dụng lần đầu: Ngày 11 tháng 10 năm 2019 3. Các thông tin bảo mật: Một số hình ảnh và số liệu khảo sát 4. Mô tả giải pháp cũ thường làm: Trước khi nghiên cứu tìm hiểu và áp dụng những giải pháp mới vào giảng dạy tôi thường vận dụng một số những giải pháp cũ sau: 4.1. Sử dụng một số phương pháp dạy học cho học sinh chủ động tìm hiểu kiến thức. Khi dạy các tiết Tập làm văn phần đầu mỗi tiết học tôi thường cho học sinh đọc đề bài, câu chuyện, câu hỏi, hướng dẫn, gợi ý sau đó làm bài. Trong các tiết Tập làm văn tôi thường cho học sinh hoạt động theo cá nhân, theo lớp. Hình thức sử dụng thường là vấn đáp trả lời câu hỏi. (Hình ảnh tiết học Tập làm văn- cô giáo đưa ra câu hỏi và học sinh trả lời) Ví dụ: Tuần 7 bài: Nghe- kể: Không nỡ nhìn. Tập tổ chức cuộc họp. Bài 1: Học sinh được chủ động đọc yêu cầu bài tập sau đó nghe cô và bạn kể chuyện và đưa ra câu hỏi cho học sinh trao đổi và trả lời. 2 Bài 2: Học sinh đọc yêu cầu của đề bài, trao đổi với bạn và viết nội dung trao đổi trong cuộc họp vào bài của mình sau khi viết xong nộp bài cho cô. Khi áp dụng giải pháp này trong một thời gian tôi thấy giải pháp còn nhiều nhược điểm và hạn chế như: học sinh đã trả lời được câu hỏi và làm được bài tập nhưng chưa linh hoạt trong quá trình làm bài, nhiều học sinh còn sử dụng câu từ giống nhau do các em bí từ. Tiết học trầm chưa gây được hứng thú cho học sinh dẫn đến học sinh sợ học môn Tập làm văn, rất ngại viết văn. Giáo viên vất vả khi sửa bài cho nhiều em, còn nhiều học sinh có các câu hỏi thắc mắc muốn hỏi giáo viên và cô giải đáp mất nhiều thời gian. Học sinh thiếu hiểu biết ngoài thực tế. 4.2. Hướng dẫn học sinh cách làm bài Tập làm văn Đối với giải pháp này tôi thường cho học sinh đọc yêu cầu của đề bài và dưới sự hướng dẫn gợi ý của sách giáo khoa để làm bài. Cô có thể đọc cho học sinh nghe một số bài văn mẫu để học sinh suy nghĩ và viết vào bài của mình. Ví dụ: Một số tiết tập làm văn (Tuần 6: Kể lại buổi đầu đi học hay tuần 8 kể về người hàng xóm, ) học sinh sẽ đọc theo gợi ý và nghe một số bài văn mẫu sau đó viết thành đoạn văn của mình. Sau khi học sinh hoàn thành đoạn văn tôi thấy bước đầu các em đã viết được đoạn văn theo yêu cầu của đề bài nhưng có nhiều em còn viết ngắn gọn đoạn văn chỉ như trả lời câu hỏi theo gợi ý của bài. Đoạn văn viết chưa có cảm xúc. Nhiều em học sinh có những câu từ giống nhau, các câu văn rời rạc chưa có sự liên kết. Có những em chưa biết cách diễn đạt ý đặc biệt chưa sử dụng được hình ảnh miêu tả khi viết bài. Đôi khi học sinh còn chưa biết cách đặt dấu câu đúng vị trí. Có một số học sinh bị nhầm đề giữa kể lại buổi đầu đi học vào lớp 1 và buổi đầu của năm học mới. Qua đó tôi đánh giá học sinh chưa hiểu rõ ý nghĩa của đề bài, chưa biết cách phân tích đề bài và còn chưa chủ động, linh hoạt dùng từ đặt câu khi viết bài của mình. 4.3. Rèn kỹ năng giao tiếp thông qua các hoạt động học Kỹ năng giao tiếp được sử dụng hằng ngày trong các tiết học nhưng chỉ đơn giản là giao tiếp dưới dạng trả lời câu hỏi trong bài, chia sẻ bài với bạn. Ví dụ: Trong các tiết Tập làm văn từ tuần 1 đến tuần 4 là những bài “Nghe- kể lại câu chuyện” nhiều em nghe câu chuyện khi yêu cầu kể lại rất lúng túng chỉ có một số ít học sinh kể được câu chuyện. Khi kể chuyện các em còn bị hạn chế về sử dụng câu từ diễn đạt. Giáo viên yêu cầu đóng vai là nhân vật trong truyện các em còn gặp nhiều khó khăn khi diễn đạt bằng lời nói, cử chỉ, điệu bộ. 3 Với giải pháp này giáo viên chỉ chú trọng rèn luyện kỹ năng giao tiếp giữa cô và trò thông qua hoạt động học, còn lại trong các hoạt động khác bị bỏ qua. Bên cạnh đó phạm vi và đối tượng giao tiếp bị hạn chế. 4.4. Giáo viên tự học tập nghiên cứu qua các tài liệu Việc tự học tập nghiên cứu và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ là con đường giúp người giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân theo kịp su thế của thời đại. Nhưng việc tự học của giáo viên chủ yếu là tự tìm tòi học tập qua lý thuyết mà còn ngại áp dụng vào thực tế để đạt kết quả cao, do khả năng đọc hiểu và tiếp thu của mỗi người khác nhau. Với giải pháp này giáo viên đã bị hạn chế về các hình thức học tập, bồi dưỡng kiến thức cho bản thân. Chính vì vậy học sinh tiếp thu bài học một cách đơn giản, chưa khơi gợi được tính tò mò, sáng tạo, yêu thích môn học của các em dẫn đến hiệu quả sau tiết học còn hạn chế. Khi áp dụng những giải pháp cũ vào giảng dạy tôi đã khảo sát chất lượng bài làm Tập làm văn của 36 em học sinh lớp 3A do tôi chủ nhiệm và đã thu được kết quả khảo sát như sau: */ Kết quả khảo sát: Số lượng học sinh được khảo sát là 36 em. Trong đó: Số lượng Tỷ lệ (%) Nội dung học sinh Học sinh viết được đoạn văn theo đúng yêu cầu đề bài. 26/36 72,2% Học sinh tự tin kể được câu chuyện, nói miệng được đoạn văn theo đúng yêu cầu, câu 12/36 33,3% từ có cảm xúc. Học sinh viết được đoạn văn và sử dụng từ ngữ miêu tả, có sáng tạo trong đoạn văn. 6/36 16,7% 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp Là một giáo viên đã giảng dạy được nhiều năm tôi thấy phân môn Tập làm văn là một phân môn khó đối với học sinh. Phân môn này giúp học sinh phát triển năng lực sử dụng Tiếng Việt của các em, tạo điều kiện cho các em giao tiếp trong cuộc sống hằng ngày và trong học tập các môn học. Không những vậy môn Tập làm văn còn giúp các em phát huy được khả năng sáng tạo, 4 tư duy của cá nhân. Mỗi một bài văn là một tác phẩm mang những nét riêng của người viết. Đối với học sinh lớp 3 các em mới hình thành viết đoạn văn, vốn từ ngữ còn ít, khả năng giao tiếp còn hạn chế. Việc làm thế nào để học sinh lớp 3 viết được đoạn văn theo đúng yêu cầu đề bài, hiểu được ý nghĩa của đoạn văn, có đoạn văn hay, sáng tạo là một điều tôi luôn nghĩ đến. Là người truyền thụ kiến thức cho học sinh tôi mong muốn học sinh của mình sẽ có hứng thú, tự tin, tích cực khi học phân môn Tập làm văn. Điều đó đòi hỏi người thầy phải có cái tâm, niềm đam mê để từ đó khơi gợi, động viên, hướng dẫn các em có niềm đam mê khi học môn Tập làm văn. Qua đó các em cảm thấy đây là môn học mà các em thích thú và mong đợi hàng tuần. Chính vì vậy sau một thời gian giảng dạy và rút ra được kinh nghiệm cho bản thân tôi xin chia sẻ một số giải pháp mà bản thân tôi rất tâm đắc và đã áp dụng có hiệu quả cao vào giảng dạy trong phân môn Tập làm văn đó là: “Giải pháp phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong phân môn Tập làm văm lớp 3”. 6. Mục đích của giải pháp Xuất phát từ sự cần thiết phải áp dụng những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập làm văn lớp 3 ở trường Tiểu học, tôi đã xây dụng một nhóm các giải pháp nhằm mục đích: Khắc phục những tồn tại, hạn chế của một số giải pháp cũ đã thực hiện nhưng kết quả đạt được chưa cao như: sự hạn chế về sử dụng phương pháp dạy học trong các tiết dạy phân môn Tập làm văn; hạn chế về sử dụng từ ngữ khi viết văn của học sinh; kỹ năng làm văn; hạn chế trong bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên. Đề xuất một số giải pháp mới trong việc nâng cao chất lượng dạy học, phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh qua đó giúp học sinh mạnh dạn tự tin khi tham gia học tập phân môn Tập làm văn. Trong tiết học các em được trao đổi, chia sẻ với bạn, tham gia các phương pháp học tập phong phú đa dạng, mạnh dạn nói lên suy nghĩ của cá nhân mình sau mỗi hoạt động và viết được đoạn văn theo cảm nhận của riêng mình. Từ đó học sinh vận dụng vào cuộc sống hằng ngày. Học sinh có khả năng diễn đạt và giao tiếp tốt hơn với bạn bè và mọi người xung quanh. Giúp giáo viên gần gũi với học sinh hơn, có cơ hội quan tâm hiểu hơn học sinh qua đó biết được điểm mạnh, điểm yếu của từng em để giúp các em khắc phục những điểm yếu và phát huy những điểm mạnh. Giáo viên sẽ thấy năng 5 động, linh hoạt hơn khi truyền thụ kiến thức cho học sinh từ đó nâng cao được chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân. Giúp phụ huynh học sinh hài lòng, phấn khởi khi thấy mình có tiến bộ khi viết được đoạn văn hay. Qua đó phụ huynh có thêm niềm tin vào các thầy cô, tạo điều kiện, quan tâm thực sự đến việc học của các con. 7. Nội dung 7.1 Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến giải pháp cũ 7.1.1. Nội dung của giải pháp Để nâng cao chất lượng dạy học, phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong phân môn Tập làm văn lớp 3, tôi đã lựa chọn các giải pháp như sau: Giải pháp 1. Vận dụng linh hoạt các phương pháp học tập tích cực gây hứng thú cho học sinh. Giải pháp 2. Rèn kỹ năng dùng từ, đặt câu. Giải pháp 3. Sử dụng sơ đồ tư duy trong phân môn Tập làm văn lớp 3 Giải pháp 4. Giáo viên tích cực bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, quan tâm, chia sẻ, gần gũi với học sinh. 7.1.2. Các bước tiến hành thực hiện giải pháp. Trước khi thực hiện, bản thân tôi đã tiến hành tìm hiểu khái quát về trường Tiểu học Hương Vỹ những thuận lợi và khó khăn của trường như sau: * Thuận lợi - Về cơ sở vật chất Trường Tiểu học Hương Vỹ được thành lập từ năm 1992. Nhà trường đã được công nhận là trường chuẩn Quốc gia mức độ 2 vào năm 2018. Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm của Phòng Giáo dục Đào tạo Yên Thế, địa phương xã Hương Vĩ. Nhà trường luôn nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ của các Ban ngành, đoàn thể, các bậc phụ huynh học sinh về cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học của cô và trò. Cơ sở vật chất của nhà trường đã được trang bị đầy đủ để phục vụ cho việc dạy và học như: đồ dùng dạy học, máy tính, máy chiếu, tivi, - Về đội ngũ giáo viên Số lượng giáo viên đảm bảo đúng tỉ lệ 1,5. Đội ngũ giáo viên trẻ nhiều được trang bị đầy đủ kiến thức kỹ năng có trình độ chuyên môn vững vàng. Bản thân tôi luôn được Ban giám hiệu nhà trường, bạn bè đồng nghiệp quan tâm giúp đỡ về chuyên môn và tôi luôn cố gắng nâng cao trình độ chuyên 6 môn: học hỏi từ đồng nghiệp, người thân hay bạn bè. Học qua các chuyên đề, tài liệu, internet - Đối với phụ huynh Đa số phụ huynh hiện nay đều trẻ, họ thường xuyên quan tâm đến việc học của các con. Ban phụ huynh học sinh tích cực tham gia, ủng hộ các hoạt động giáo dục của nhà trường. - Đối với học sinh Các em học sinh đều ngoan ngoãn, lễ phép. Được chuẩn bị đầy đủ sách vở và đồ dùng học tập khi đến trường. Ở trường được các thầy cô giáo quan tâm giảng dạy nhiệt tình. * Khó khăn - Về phía học sinh Học sinh còn gặp phải một số khó khăn khi làm văn như: Học sinh chưa nắm chắc đề bài, chưa xác định đúng trọng tâm của đề, viết được đoạn văn ngắn nhưng câu từ còn lủng củng. Các em ngại suy nghĩ, ngại viết đoạn văn dài do tiết học nhàm chán, chưa gây hứng thú học tập cho học sinh. Kỹ năng vận dụng vốn từ vào viết còn hạn chế, câu văn ít hình ảnh miêu tả, thiếu sáng tạo. - Về phía giáo viên Giáo viên còn chưa chủ động, sáng tạo khi vân dụng phương pháp dạy học trong phân môn Tập làm văn. Kỹ năng sử dụng từ ngữ, câu văn của một số giáo viên còn hạn chế. Các tiết dạy còn hình thức, nặng nề ở mức độ hoàn thành nội dung bài học; chưa sáng tạo về cách tổ chức hoạt động phát huy tính tích cực của học sinh trong tiết học. Đứng trước thực trạng dạy và học như trên. Qua bài khảo sát khi áp dụng giải pháp dạy học cũ tôi thấy cần phải đổi mới phương pháp dạy học phân môn Tập làm văn lớp 3 để phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong môn học tạo cho học sinh hứng thú, say mê trong học tập. 1. Giải pháp 1. Vận dụng linh hoạt các phương pháp học tập tích cực gây hứng thú cho học sinh. 1.1. Phương pháp dạy học theo nhóm cộng tác Phương pháp dạy học này thường xuyên được các giáo viên áp dụng trong các môn học nhưng đối với phân môn Tập làm văn giáo viên cần khuyến khích động viện học sinh làm việc theo cặp đôi hoặc nhóm để học sinh có cơ hội được đưa ra suy nghĩ của mình với bạn, biết lắng nghe và cùng nhau sửa bài cho bạn. 7 (Hình ảnh học sinh hoạt động nhóm trong tiết Tập làm văn) Ví dụ: Khi học sinh học tiết Tập làm văn những đề bài ‘‘ Nói - Kể lại „ như đề: Tập tổ chức cuộc họp ( Tuần 5); Kể về người hàng xóm ( Tuần 8); Nói về quê hương ( Tuần 11, tuần 12); Giới thiệu hoạt động của tổ em ( tuần 14, tuần 15)... Học sinh đã chuẩn bị bài ở nhà, trong tiết học các em sẽ trao đổi bài của mình với bạn bên cạnh hoặc theo nhóm bằng hình thức đọc. Sau khi đọc xong các bạn chia sẻ với bạn và đưa ra ý về bài viết của các bạn trong nhóm từ đó học tập được cách sử dụng từ, đặt câu của các bạn. Khi thảo luận nhóm xong các nhóm sẽ chia sẻ các đoạn văn hay trước lớp để cả lớp được học tập. 1.2. Phương pháp đóng vai Tập làm văn lớp 3 có mười bài về Nghe- kể lại câu chuyện. Để tạo hứng thú học tập giúp học sinh tự tin kể lại được câu chuyện một cách linh hoạt tôi yêu cầu học sinh nghiên cứu bài trước ở nhà, chuẩn bị đồ dùng cần thiết để học sinh được tham gia đóng vai là các nhân vật trong câu chuyện và thi đóng vai (Hình ảnh: Học sinh đóng vai trong câu chuyện: Chàng trai làng Phù Ủng) 8 Ví dụ: Trong tiết Tập làm văn: Nghe- kể: Chàng trai làng Phù Ủng. Học sinh được nghe một bạn trong lớp kể lại câu chuyện Chàng trai làng Phù Ủng. Các em tham gia đóng vai là các nhân vật trong câu chuyện: chàng trai ngồi đan sọt (Phạm Ngũ Lão), Hưng Đạo Vương ( Trần Hưng Đạo) và 5 bạn là quân lính. Sau khi thi đóng vai giữa ba tổ học sinh sẽ trao đổi câu hỏi trong sách giáo khoa và trả lời. Các nhóm bình bầu người đóng vai hay nhất để khen ngợi. Cuối tiết học các em được nêu cảm nhận, suy nghĩ của mình qua các nhân vật. Nhờ vậy các em rất thích thú khi tham gia tiết học, tiết học không bị nhàm chán và học sinh được khắc sâu kiến thức bài học. Đối với một số tiết Tập làm văn Nghe- kể có câu chuyện ngắn khoảng hai nhân vật, tôi sẽ cho học sinh đóng vai theo cặt đôi để tất cả các em đều được tham gia. Ví dụ Nghe- kể: Tôi cũng như bác (tuần 14); Nghe- kể: Kéo cây lúa lên (tuần 16) học sinh được nghe và kể lại câu chuyện bằng hình thức đóng vai thành hai nhân vật trong câu chuyện có tình huống hài hước. Khi học sinh đóng vai tôi luôn chú ý đến lời nói, cử chỉ, điệu bộ để phù hợp với các nhân vật trong câu chuyện. Qua phần đóng vai học sinh sẽ được chia sẻ về câu chuyện, được nhận xét về các nhân vật trong truyện và rút ra bài học cho bản thân, liên hệ với thực tế cuộc sống. Sau mỗi tiết học tôi luôn khen ngợi, động viên các em có nhiều tiến bộ trong giờ học. 1.3. Phương pháp vấn đáp, đàm thoại Đây là phương pháp được tôi sử dụng thường xuyên trong các tiết học nhất là trong phân môn Tập làm văn. Muốn làm rõ được một yêu cầu đề bài chúng ta cần đưa ra những câu hỏi vì sao? Để làm gì? Như thế nào? Để gợi cho học sinh tư duy suy nghĩ và xác định được đúng đề bài văn. Có thể đưa ra những câu hỏi ngược, câu hỏi phản diện để học sinh hiểu một cách đúng nhất vấn đề. 9 (Hình ảnh học sinh trao đổi, trả lời câu hỏi trong tiết Tập làm văn) Ví dụ: Trong tiết Tập làm văn tuần 31. Bài 1 yêu cầu học sinh: Tổ chức họp nhóm trao đổi ý kiến về câu hỏi sau: “ Em cần làm gì để bảo vệ môi trường„ Giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh đưa ra ý kiến của mình bằng cách đưa ra các câu hỏi để trao đổi như: - Vì sao em cần bảo vệ môi trường? - Theo em môi trường quan trọng như thế nào với cuộc sống con người? - Em cần là gì để bảo vệ môi trường? - Suy nghĩ của em về những việc em đã làm được? Qua các câu hỏi trao đổi học sinh sẽ đưa ra nhiều hướng giải quyết và viết được đoạn văn có nhiều ý kiến khác nhau, không trùng lặp. Học sinh cũng sẽ tự tin trình bày trước lớp các ý kiến của mình. Từ đó tạo môi trường học tập cởi mở, gần gũi 1.4. Phương pháp quan sát trong dạy học phân môn Tập làm văn Phương pháp này rất cần thiết đối với học sinh nhất là học sinh lớp 3. Tôi thường hướng dẫn học sinh biết lựa chọn trình tự quan sát, sử dụng các giác quan để quan sát, cần quan sát kỹ trọng tâm của cảnh vật, của người. Đồ dùng thường được sử dụng để học sinh thuân lợi quan sát và gây sự hứng thú cho học sinh quan hình ảnh học sinh, cô giáo sưu tập được sau đó trình chiếu qua tivi. Ví dụ: Trong bài tập làm văn tuần 12: Nói về cảnh đẹp quê hương; tuần13: Nói về cảnh đẹp đất nước Học sinh được quan sát một số cảnh đẹp quê hương của mình qua thực tế cuộc sống và qua tranh cô chụp như: cảnh cánh đồng lúa quê em, cảnh đình làng quê em,... (Hình ảnh Đình làng xã Hương Vỹ) 10 Cảnh đẹp đất nước: cô giáo sẽ giới thiệu đến học sinh một số cảnh đẹp ở nước ta như cảnh đồi núi, cảnh biển,... (Hình ảnh núi rừng Tây Bắc- Việt Nam vào mùa gặt lúa) (Hình ảnh cảnh biển Phan Thiết- tỉnh Bình Thuận) Có thể các em chưa được đến những cảnh đẹp này nhưng bằng kỹ năng quan sát qua hình ảnh, video các em có thể tưởng tượng, hình dung, cảm nhận được cái đẹp của nơi đó và viết được đoạn văn theo yêu cầu đề bài. Qua việc quan sát trực tiếp trên màn hình ti vi giúp học sinh hiểu bài nhanh và gây hứng 11 thú cho học sinh chú ý vào tiết học nhờ vậy các đoạn văn các em viết đạt hiệu quả cao hơn. 2. Giải pháp 2. Rèn kỹ năng dùng từ, đặt câu. Học sinh lớp 3 còn nhỏ nên kỹ năng dùng từ đặt câu còn hạn chế. Trong các tiết học từ đầu năm tôi luôn quan tâm đến việc rèn đọc hiểu (môn Tập đọc), rèn viết (môn Chính tả) và rèn kỹ năng dùng từ đặt câu (môn Luyện từ và câu) để từ đó học sinh biết cách vận dụng sang môn tập làm văn. Ví dụ: Chủ điểm Lễ hội được học trong hai tuần ( tuần 25, tuần 26) học sinh được học các bài tập đọc nói về lễ hội như: Hội vật, Hội đua voi ở Tây Nguyên, Sự tích Lễ hội Chử Đồng Tử...) học sinh đã tìm hiểu bài và biết về lễ hội, các hoạt động trong lễ hội. Học sinh được vận dụng viết các bài chính tả về Lễ hội được hiểu về ý nghĩa của lễ hội và các hoạt động tổ chức lễ hội trong tiết Luyện từ và câu, vận dụng các biện pháp nhân hóa, so sánh được học trong môn Luyện từ và câu để viết đoạn văn được sáng tạo, phong phú. 3. Giải pháp 3. Sử dụng sơ đồ tư duy Để học sinh hoàn thành được yêu cầu đề bài và làm tốt bài việc đầu tiên giáo viên cầu làm là cho học sinh đọc đề và phân tích đề bài qua các bước sau: Bước 1: Đọc đề bài Bước 2: Quan sát, suy nghĩ và tìm ý Bước 3: Sắp xếp các ý ( Sử dụng sơ đồ tư duy) Bước 4: Viết đoạn văn theo yêu cầu đề bài Bước 5: Kiểm tra lại bài Ví dụ: Tập làm văn -Tuần 29 đề bài: Viết đoạn văn ngắn ( từ 5- 7 câu) kể về trận thi đấu thể thao mà em có dịp được xem. Bước 1: Học sinh đọc yêu cầu đề bài: Viết đoạn văn ngắn ( từ 5- 7 câu) kể về trận thi đấu thể thao mà em có dịp được xem. Giáo viên đưa ra câu hỏi: Đề bài yêu cầu chúng ta làm gì? Lựa chọn phương pháp học trong bài: Phương pháp quan sát tranh, ảnh, video, làm việc cá nhân, nhóm, chia sẻ trong nhóm. Sau khi đã xác định được yêu cầu của đề bài học sinh sẽ quan sát tranh ảnh và tưởng tượng. Bước 2: Quan sát, suy nghĩ và tìm ý Giáo viên đưa ra một số bức tranh để học sinh quan sát 12 (Hình ảnh trận thi đấu bóng chuyền nữ) (Hình ảnh trận thi đấu bóng đá thiến niên) Học sinh quan sát một số bức tranh và lựa chọn bộ môn thể thao mình đã được xem trực tiếp hoặc xem qua ti vi mà mình thích để kể. Sau khi quan sát tranh giáo viên cho học sinh kể thêm một số môn thể thao các em đã được xem để các em thoải mái lựa chọn, chia sẻ với bạn ngồi cùng về môn thể thao em định viết. Khuyến khích hai bạn ngồi cùng bàn không viết môn thể thao giống nhau. 13 Bước 3: Sắp xếp các ý bằng sơ đồ tư duy Giáo viên hướng dẫn và hình thành cho học sinh thói quen khi viết văn cần lập sơ đồ tư duy để xác định đúng trọng tâm bài văn, tránh lan man, lạc đề. SƠ ĐỒ TƯ DUY PHÂN MÔN TẬP LÀM Bước 4: Viết đoạn văn theo yêu cầu đề bài Học sinh dựa vào sơ đồ tư duy vừa lập để viết bài. Nhắc nhở học sinh chú ý cách sắp xếp từ ngữ trong câu. Khuyến khích học sinh sử dụng các hình ảnh miêu tả, hình ảnh so sánh, vận dụng các giác quan khi quan sát và cảm nhận. Ví dụ: Câu có hình ảnh miêu tả, so sánh: Trận đấu diễn ra ngày càng kịch tính. Khi cầu thủ Đức Dũng cướp được bóng khán giả nín thở hồi hộp. Sút ...vào... cả sân vận động vỡ ào như đàn ong vỡ tổ„. Bước 5: Kiểm tra lại bài làm Khi học sinh đã hoàn thành được đoạn văn theo yêu cầu đề bài tôi hình thành cho các em thói quen đọc lại bài viết của mình để soát lỗi chính tả. Trao đổi, chia sẻ bài làm với bạn. Nếu bài làm có lỗi học sinh có thể chỉnh sửa lại, bổ sung xuống duới. 4. Giải pháp 4. Giáo viên tích cực bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, quan tâm, chia sẻ, gần gũi với học sinh. Là người giáo viên tôi nhận thấy cần phải thay đổi phương pháp dạy học sao cho phù hợp với đối tượng học sinh. Tôi không ngại tìm hiểu học hỏi mọi lúc, mọi nơi trong trường và các trường bạn. Tích cực tham gia giảng dạy, dự 14 giờ học tập trong các buổi sinh hoạt chuyên môn tổ, trường, cụm để chia sẻ, học hỏi các phương pháp dạy học mới và vận dụng phù hợp với học sinh lớp mình. Tôi luôn quan tâm đến tất cả các đối tượng học sinh đặc biệt là học sinh viết chậm, khả năng dùng từ đặt câu còn hạn chế bằng cách: cho học sinh làm thêm đề Tập làm văn, hướng dẫn và cùng em phân tích đề. Sau khi hoàn thành bài làm sẽ sửa bài cùng em, động viên khen ngợi kịp thời khi em có sự tiến bộ. (Hình ảnh cô giáo gần gũi, quan tâm đến học sinh) Muốn học sinh học tập tốt, yêu thích môn Tập làm văn thì người giáo viên cần tạo cho học sinh hứng thú, vui vẻ,thoải mái trong giờ học. (Hình ảnh cô và trò học tập vui vẻ tiết Tập làm văn) 15 Ngoài ra tôi luôn khuyến khích học sinh thường xuyên đọc các loại sách tham khảo dành cho môn Tập làm văn, tham khảo những bài văn hay trên mạng. Tích cực đọc Tạp chí Văn học tuổi trẻ, báo măng non, truyện tranh. Qua đó học sinh có thói quen đọc sách và cũng học tập được cách sử dụng từ ngữ sáng tạo, phong phú trong các bài văn, câu chuyện. ( Hình ảnh cô và trò đang đọc một số tài liệu tham khảo) Để học sinh có thêm vốn hiểu biết về cuộc sống vận dụng vào viết văn tôi đã tổ chức các hoạt động trải nghiệm bổ ích giúp học sinh có cái nhìn thực tế với cảnh vật, cuộc sống xung quanh để bài văn thêm phần chân thực. (Hình ảnh học sinh thăm di tích lịch sử Chùa Hương Vỹ vào dịp hội Xuân) 16 Tôi đã thành lập các câu lạc bộ học tập ở trong lớp để các em trong câu lạc bộ giúp đỡ nhau trong học tập như: Câu lạc bộ yêu Tiếng Việt, câu lạc bộ Toán, câu lạc bộ thể dục thể thao và câu lạc bộ Tiếng anh. Nhờ vậy mà chất lượng giáo dục của lớp tôi đã chuyển biến rõ rệt. Không những vậy tôi luôn phối hợp chặt chẽ với Ban giám hiệu nhà trường, phụ huynh học sinh để trao đổi về sự tiến bộ của các em trong học tập. 7.1.3. Kết quả sau khi thực hiện giải pháp Qua thời gian áp dụng những giải pháp trên cùng với sự cố gắng của bản thân, sự hỗ trợ của đồng nghiệp, quá trình học tập tích cực của học sinh và được sự ủng hộ nhiệt tình của các bậc phụ huynh học sinh đã giúp tôi đạt được những kết quả như mong đợi trong việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập phân môn Tập làm văn. Mặc dù học sinh lớp 3 mới hình thành viết đoạn văn nhưng các em đã yêu thích môn Tập làm văn và có kỹ năng làm văn tốt. Tình trạng học sinh làm lạc đề, sai lỗi chính tả, bí từ,... đã giảm hẳn. Nhiều học sinh biết cách sử dụng từ ngữ miêu tả, hình ảnh so sánh, nhân hóa trong bài làm của mình làm cho bài văn thêm sinh động, giàu cảm xúc hơn. * Kết quả khảo sát sau khi áp dụng các giải pháp Trước khi áp Sau khi áp Số lượng dụng dụng học sinh Ghi Nội dung được Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ chú khảo sát lượng (%) lượng (%) HS HS Học sinh viết được đoạn văn 36/36 100% theo đúng yêu cầu đề bài. 36 26/36 72,2% Học sinh tự tin kể được câu chuyện, nói miệng được 36 12/36 33,3% 33/36 91,7% đoạn văn theo đúng yêu cầu, câu từ có cảm xúc. Học sinh viết được đoạn văn và sử dụng từ ngữ miêu 36 6/36 16,7% 30/36 83,3% tả, có sáng tạo trong đoạn văn. 17 7.2. Phạm vi áp dụng giải pháp Sau khi nghiêm cứu, vận dụng các giải pháp trên, cùng với đó là tính khả thi và hiệu quả mà giải pháp mang lại, tôi thấy các giải pháp này có thể được sử dụng trong dạy học phân môn Tập làm văn ở khối lớp 3 trong trường Tiểu học Hương Vỹ và khối lớp 3 các trường lân cận trong huyện, tỉnh. 7.3. Lợi ích kinh tế, xã hội của giải pháp Qua quá trình thực hiện, áp dụng các giải pháp đã giúp cho bản thân tôi hiểu rõ hơn về vai trò, trách nhiệm của người giáo viên trong việc tổ chức tiết học và truyền thụ kiến thức cho học sinh. Với kết quả đạt được như trên đã làm hài lòng các bậc phụ huynh từ đó phụ huynh có suy nghĩ, nhận thức được tầm quan trọng của giáo viên, sự cần thiết trong việc học tập. Cũng từ đó phụ huynh đã nhiệt tình hơn trong các phong trào của lớp, của trường tạo một môi trường học tập thân thiện, lành mạnh. Các giải pháp trên đã giúp cho học sinh lớp tôi phát triển một cách toàn diện từ kiến thức bài học đến năng lực, phẩm chất để các em tích cực học tập trong tất cả các môn học và hoạt động giáo dục. Các giải pháp trên không chỉ áp dụng được trong môn Tập làm văn lớp 3, một số giải pháp có thể vận dụng được ở các môn học khác ở tất cả các khối lớp trong trường Tiểu học. Trên đây là một số giải pháp phát huy tích cực, sáng tạo của học sinh trong phân môn Tập làm văm lớp 3 ở trường Tiểu học mà tôi đã nghiên cứu và vận dụng. Tôi rất mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến từ Hội đồng khoa học Trường Tiểu học Hương Vỹ, Phòng GD&ĐT Yên Thế để các giải pháp của tôi đạt hiệu quả cao. Tôi xin cam đoan những điều tôi viết trên đây là đúng sự thật và không sao chép. Tôi xin chân thành cảm ơn./. Hương Vỹ, ngày 5 tháng 03 năm 2021 XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG HIỆU TRƯỞNG TÁC GIẢ SÁNG KIẾN Nguyễn Thị Việt Nguyễn Thị Thành 18
File đính kèm:
giai_phap_phat_huy_tinh_tich_cuc_sang_tao_cua_hoc_sinh_trong.pdf



