Một số biện pháp rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 3
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Một số biện pháp rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 3, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
PHỤ LỤC Nội dung Trang I. PHẦN MỞ ĐẦU 2 1. Lý do chọn biện pháp 2 2. Mục đích nghiên cứu 3 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 4 4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5 5. Phương pháp nghiên cứu 5 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5 1. Cơ sở lý luận 5 2. Cơ sở thực tiễn 7 2.1. Thực trạng nhiệm vụ 8 2.2. Thuận lợi – khó khăn 9 2.3. Những yếu tố khách quan, chủ quan của sáng kiến được 10 đề xuất trong thực hiện nhiệm vụ, công tác 3. Các biện pháp 11 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 18 1. Khả năng áp dụng, phạm vi, lĩnh vực áp dụng 19 2. Kết quả của việc áp dụng 19 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 20 1. Kết luận 20 2. Những kiến nghị, đề xuất 21 TÀI LIỆU THAM KHẢO 23 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn biện pháp Như chúng ta đã biết giáo dục kĩ năng sống là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ. Các em chính là những chủ nhân tương lai của đất nước, là những người quyết định sự phát triển của đất nước trong những năm tới. Kỹ năng sống là một tập hợp các kĩ năng mà con người có được thông qua giảng dạy hoặc kinh nghiệm trực tiếp được sử dụng để xử lý những vấn đề, câu hỏi thường gặp trong cuộc sống hàng ngày của con người. Trong giáo dục Tiểu học và giáo dục trung học, kĩ năng sống có thể là một tập hợp những khả năng được rèn luyện và đáp ứng các nhu cầu cụ thể của cuộc sống hiện đại hóa; ví dụ cuộc sống bao gồm quản lý tài chính (cá nhân), chuẩn bị thức ăn, vệ sinh, cách diễn đạt, và kỹ năng tổ chức. Trong những năm trở lại đây, khi hiệu quả của phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” có sức lan tỏa mạnh mẽ trong các cấp học, ngoài việc nâng cao chất lượng giáo dục, các đơn vị trường học ngày càng chú trọng tới công tác giáo dục đạo đức, kĩ năng sống cho học sinh. Lứa tuổi học sinh Tiểu học là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá, song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động .Đặc biệt là trong bối cảnh quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn đặt vào hoàn cảnh lựa chọn các giá trị, phải đương đầu với những khó khăn thách thức, những áp lực tiêu cực. Nếu không được giáo dục kĩ năng sống, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, vào lối sống ích kỉ, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách. Ở bậc Tiểu học các môn học nhằm cung cấp cho học sinh những tri thức sơ đẳng về các chuẩn mực hành vi xã hội chủ nghĩa gắn với những kinh nghiệm 3 đạo đức, để từ đó giúp học sinh hình thành kĩ năng sống, biết phân biệt đúng sai làm theo cái đúng, ủng hộ cái đúng, đấu tranh với những biểu hiện sai trái, xấu xa, nhắc nhở các em hành động theo chuẩn mực đạo đức và thói quen đạo đức. Có thể nói kĩ năng sống chính là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh. Người có kĩ năng sống phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách, biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù hợp, thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính mình. Ngược lại, người thiếu kĩ năng sống thường bị vấp váp, dễ bị thất bại trong cuộc sống. Rèn kĩ năng sống ở bậc Tiểu học là một nhiệm vụ quan trọng mà người người làm công tác giáo dục cần quan tâm. Từ những lý do trên tôi đã chọn đề tài “Một số biện pháp rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 3” làm đề tài nghiên cứu trong năm học này. 2. Mục đích nghiên cứu Ở bậc Tiểu học các môn học nhằm cung cấp cho học sinh những tri thức sơ đẳng về các chuẩn mực hành vi xã hội chủ nghĩa gắn với những kinh nghiệm đạo đức, để từ đó giúp học sinh hình thành kĩ năng sống, biết phân biệt đúng sai làm theo cái đúng, ủng hộ cái đúng, đấu tranh với những biểu hiện sai trái, xấu xa, nhắc nhở các em hành động theo chuẩn mực đạo đức và thói quen đạo đức. Có thể nói kĩ năng sống chính là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh. Người có kĩ năng sống phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách, biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù hợp, thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính mình. Ngược lại, người thiếu kĩ năng sống thường bị vấp váp, dễ bị thất bại trong cuộc sống. Rèn kĩ năng sống ở bậc Tiểu học là một nhiệm vụ quan trọng mà người người làm công tác giáo dục cần quan tâm. Mong muốn các em có thể trang bị cho các em một số hiểu biết về một số chuẩn mực, hành vi đạo đức và pháp luật phù hợp với lứa tuổi trong mối quan hệ của các em với bản thân, gia đình, nhà trường, cộng đồng và ý nghĩa 4 của việc thực hiện theo các chuẩn mực đó. Từng bước hình thành kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân và những người xung quanh theo các chuẩn mực đã học, kỹ năng lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ và tình huống đơn giản, cụ thể của cuộc sống, biết nhắc nhở bạn bè cùng thực hiện, hình thành thái độ tự trọng, tự tin, yêu thương, tôn trọng con người, yêu cái thiện, cái đúng, cái tốt, không đồng tình với cái ác, cái sai, cái xấu. - Giúp cho các em có vốn kinh nghiệm sống phong phú, tự nhận biết các hành vi đạo đức từ thực tế xung quanh các em qua các bài học, tranh ảnh, tiểu phẩm, sắm vai. Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức, vận dụng vốn kinh nghiệm đó vào cuộc sống thực tế hàng ngày. Giúp giáo viên say mê với công việc, yêu nghề mến trẻ. - Có thể trang bị cho các em một số hiểu biết về một số chuẩn mực, hành vi đạo đức và pháp luật phù hợp với lứa tuổi trong mối quan hệ của các em với bản thân, gia đình, nhà trường, cộng đồng và ý nghĩa của việc thực hiện theo các chuẩn mực đó. Từng bước hình thành kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân và những người xung quanh theo các chuẩn mực đã học, kỹ năng lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ và tình huống đơn giản, cụ thể của cuộc sống, biết nhắc nhở bạn bè cùng thực hiện, hình thành thái độ tự trọng, tự tin, yêu thương, tôn trọng con người, yêu cái thiện, cái đúng, cái tốt. - Giúp cho các em có vốn kinh nghiệm sống phong phú, tự nhận biết các hành vi đạo đức từ thực tế xung quanh các em qua các bài học, tranh ảnh, tiểu phẩm, sắm vai, vận dụng vốn kinh nghiệm đó vào cuộc sống thực tế hàng ngày. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh là nhằm giúp các em rèn luyện kĩ năng ứng xử thân thiện trong mọi tình huống; thói quen và kĩ năng làm việc theo nhóm, kĩ năng hoạt động xã hội. 5 - Giáo dục cho học sinh thói quen rèn luyện sức khỏe, ý thức tự bảo vệ bản thân, phòng ngừa tai nạn giao thông, đuối nước và các tệ nạn xã hội. - Đối với học sinh Tiểu học việc hình thành các kĩ năng cơ bản trong học tập và sinh hoạt là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau này của các em. - Làm thay đổi tư tưởng giáo viên, phụ huynh chỉ chú trọng đến việc dạy kiến thức, đến việc đọc tốt, làm tính tốt còn xem thường và chiếu lệ việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 3 - Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 3B2 5. Phương pháp nghiên cứu Để hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm rèn kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học tôi đã ậv n dụng các phương pháp sau: 5.1. Phương pháp điều tra, phỏng vấn Điều tra thấy được thực trạng rèn kĩ năng sống của học sinh. Điều tra để kiểm nghiệm giá trị thực tiễn của các biện pháp rèn kĩ năng sống của học sinh nhằm rút kinh nghiệm và điều chỉnh cho hợp lí. 5.2. Phương pháp đàm thoại Trao đổi với giáo viên trực tiếp giảng dạy các lớp và một số học sinh cùng khối của trường để thu thập ý kiến, kết quả trước và sau khi vận dụng. 5.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm Dạy thực nghiệm thông qua các môn học và thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp để kiểm tra đánh giá qua vận dụng các biện pháp đã nghiên ức u. 5.4. Phương pháp nghiên cứu lí luận Phân tích tổng hợp lí thuyết, phân loại hệ thống lí thuyết để từ đó có cơ sở để đi sâu vào nghiên cứu vấn đề cụ thể. 5.5. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm 6 Qua vốn kinh nghiệm giảng dạy của bản thân kết hợp với trao đổi cùng đồng nghiệp, nghiên cứu qua sách, báo, tài liệu tham khảo, ... nhằm rút ra kinh nghiệm chung. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Như chúng ta đã biết mục tiêu giáo dục của Đảng đã chỉ rõ: “Đào tạo có chất lượng tốt những người lao động mới có ý thức và đạo đức xã hội chủ nghĩa, có trình độ văn hoá phổ thông và hiểu biết kỹ thuật, có kỹ năng lao động cần thiết, có óc thẩm mỹ, có sức khoẻ tốt”. Một nhà hiền triết đã nói “khoa học mà không có hành vi đạo đức thì chỉ là sự tàn rụi của linh hồn” mà hành vi đạo đức đó chính là kĩ năng sống của học sinh vì vậy việc thực hiện rèn kĩ năng sống cho học sinh là cần thiết biết bao. Bác Hồ nói: “Có tài mà không có đức là vô dụng Có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó” Kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống, giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống có nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại Kĩ năng sống đơn giản là tất cả điều cần thiết mà chúng ta phải biết để có được khả năng thích ứng với những thay đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc sống. Khi trẻ bắt đầu gia nhập cuộc sống nhà trường, đi học tiểu học, các em được học thêm những điều chưa hề có trong 6 năm đầu đời; khi gia nhập cuộc sống nhà trường các em phải tiến hành hoạt động học – hoạt động nghiêm chỉnh có kỉ cương, nề nếp với những yêu cầu nghiêm ngặt. Chuyển từ hoạt động chủ đạo là vui chơi sang hoạt động chủ đạo là học tập; chắc chắn trẻ không tránh khỏi sự bỡ ngỡ vì thế phải chuẩn bị cho các em tâm lí chuẩn bị sẵn sàng đi học. Việc rèn kĩ năng sống cho học sinh tiểu học cũng được bắt đầu ngay từ những buổi đầu các em đến trường. Nếu không chuẩn bị chu đáo về mặt tâm lí cho trẻ trước khi đi học sẽ dẫn đến những tình huống như: đòi theo bố mẹ về nhà, không 7 dám nói chuyện với bạn bè, không dám chào hỏi thầy cô, không dám xin phép cô khi ra vào lớp, ... Kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống, giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống có nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại... Kĩ năng sống đơn giản là tất cả điều cần thiết mà chúng ta phải biết để có được khả năng thích ứng với những thay đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc sống. Trong quá trình giáo dục học sinh, rèn kĩ năng sống cho học sinh, người giáo viên không những cần am hiểu về tâm lý trẻ em mà còn phải có kiến thức về sinh lý trẻ em. 2. Cơ sở thực tiễn Giáo dục kĩ năng sống là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ. Các em chính là những chủ nhân tương lai của đất nước, là những người quyết định sự phát triển của đất nước trong tương lai. Kỹ năng sống là một tập hợp các kĩ năng mà con người có được thông qua giảng dạy hoặc kinh nghiệm trực tiếp được sử dụng để xử lý những vấn đề, câu hỏi thường gặp trong cuộc sống hàng ngày của con người. Tại Việt Nam, kĩ năng sống đang được quan tâm, tuy nhiên trong nhà trường chủ yếu học sinh chỉ được dạy kĩ năng học tập và chính trị, còn việc giáo dục kĩ năng sống chưa được quan tâm nhiều. Theo chuyên viên tâm lý Huỳnh Văn Sơn, cố vấn Trung tâm chăm sóc tinh thần Ý tưởng Việt: "Hiện nay, thuật ngữ kĩ năng sống được sử dụng khá phổ biến nhưng có phần bị "lạm dụng" khi chính những người huấn luyện hay tổ chức và các bậc cha mẹ cũng chưa thật hiểu gì về nó". Tổ chức Y tế Thế giới WHO định nghĩa kĩ năng sống là "khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày". Trong giáo dục Tiểu học và giáo dục trung học, kĩ năng sống có thể là một tập hợp những khả năng được rèn luyện và đáp ứng các nhu cầu cụ thể của cuộc sống hiện đại hóa; ví dụ cuộc 8 sống bao gồm quản lý tài chính (cá nhân), chuẩn bị thức ăn, vệ sinh, cách diễn đạt, và kỹ năng tổ chức. Thực tế hiện nay việc rèn kĩ năng sống của các em ở trường Tiểu học còn thấp và nhiều hạn chế. Việc rèn kĩ năng sống cho học sinh chưa có nét chuyển biến, nguyên do chính là trong tư tưởng giáo viên, phụ huynh chỉ chú trọng đến việc dạy kiến thức, việc rèn kĩ năng sống cho học sinh còn chiếu lệ, giáo viên luôn chú trọng đến việc đọc tốt, làm tính tốt Lứa tuổi học sinh Tiểu học là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá, song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động .Đặc biệt là trong bối cảnh quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn đặt vào hoàn cảnh lựa chọn các giá trị, phải đương đầu với những khó khăn thách thức, những áp lực tiêu cực. Nếu không được giáo dục kĩ năng sống, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, vào lối sống ích kỉ, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách. Ở bậc Tiểu học các môn học nhằm cung cấp cho học sinh những tri thức sơ đẳng về các chuẩn mực hành vi xã hội chủ nghĩa gắn với những kinh nghiệm đạo đức, để từ đó giúp học sinh hình thành kĩ năng sống, có được một thế giới quan và nhân sinh quan đúng đắn, biết phân biệt đúng sai, ủng hộ cái đúng, nhắc nhở các em hành động theo chuẩn mực đạo đức và thói quen đạo đức tốt. Có thể nói kĩ năng sống chính là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh. Người có kĩ năng sống phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách, biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù hợp, thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính mình. Rèn kĩ năng sống ở bậc Tiểu học là một nhiệm vụ quan trọng mà người người làm công tác giáo dục cần quan tâm. 2.1. Thực trạng nhiệm vụ, công tác trước khi áp dụng sáng kiến 9 Năm học 2023- 2024 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 3B2. Lớp tôi có 34 học sinh trong đó có 14 em nữ và 20 em nam. Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy có một số em nhận thức chưa đồng đều, chưa tự giác học tập, còn có những biểu hiện, hành vi chưa đúng, một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm, còn thoái thác cho nhà trường trong việc dạy kiến thức cũng như giáo dục đạo đức cho các con. Trong quá trình giảng dạy thông qua các môn học giáo viên đã tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh nhưng còn khá sơ sài và qua loa. Đa số giáo viên chỉ chú trọng đến việc dạy kiến thức, đến việc đọc tốt, làm tính tốt việc rèn kĩ năng sống cho học sinh còn chiếu lệ, chưa thường xuyên. Từ thực trạng trên thông qua việc nghiên cứu chương trình, nội dung giảng dạy, kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm của bản thân và thực tế lớp chủ nhiệm cùng với sự trao đổi với đồng nghiệp. Vì vậy tôi đã chọn đề tài “Một số biện pháp rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 3” để làm đề tài nghiên cứu trong năm học này. Trong quá trình nghiên cứu tôi thấy có một số thuận lợi và khó khăn sau: 2.2. Thuận lợi - khó khăn 2.2.1. Thuận lợi - Nhà trường luôn được sự quan tâm đặc biệt của các cấp lãnh đạo trong công tác bồi dưỡng nâng cao chất lượng giảng dạy cũng như công tác triển khai chuyên đề “Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh” của đội ngũ giáo viên. Sự nhiệt tình ủng hộ của các bậc phu huynh. - Ban giám hiệu nhà trường có năng lực chuyên môn và quản lý tốt. Có tâm huyết, có quyết tâm và linh hoạt sáng tạo trong công tác quản lý chỉ đạo xây dựng và phát triển nhà trường. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh vốn đã được nhà trường chú ý từ rất lâu. - Đa số đội ngũ giáo viên nhiệt tình, năng động trong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật cao. Thường xuyên dự các chuyên đề do nhà trường và phòng 10 Giáo dục tổ chức. Tập thể sư phạm đoàn kết, giúp đỡ nhau trong công tác, có sự quản lý chặt chẽ trong nhà trường. - Giáo viên luôn có ý thức trong việc tự học, tự rèn để nâng cao trình độ chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy để tạo được uy tín nghề nghiệp đối với phụ huynh và học sinh. - Thông qua các môn học giáo viên đã tích hợp dạy kĩ năng sống cho học sinh trong các môn học và hoạt động giáo dục, học sinh được học 1 tiết/ tuần kĩ năng sống do giáo viên chuyên dạy hàng tuần. - Cơ sở vật chất ngày càng khang trang. Trang thiết bị dạy học của giáo viên ngày càng được trang bị đầy đủ. 2.2.2. Khó khăn - Đội ngũ cán bộ giáo viên của nhà trường đang dần được trẻ hóa song kinh nghiệm trong công tác chuyên môn và công tác chủ nhiệm còn hạn chế. Chất lượng giáo viên chưa đồng đều. Việc đổi mới phương pháp dạy học ở một số giáo viên còn hạn chế, chưa tích cực. - Về phía các bậc cha mẹ các em luôn nóng vội trong việc dạy con; họ chỉ chú trọng đến việc con mình về nhà mà chưa biết đọc, viết chữ, hoặc chưa biết làm toán thì lo lắng một cách thái quá. - Giáo viên mặc dù có nhiều kinh nghiệm nhưng việc đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm khuyến khích sự chuyên cần, tích cực, chủ động, sáng tạo và ý thức vươn lên, rèn luyện khả năng tự học của học sinh còn gặp nhiều khó khăn. - Các em còn nhỏ nên việc giao tiếp của các em còn hạn chế, nhút nhát, rụt rè trước đám đông và người lạ, xử lý các tình huống còn hạn chế, chưa mạnh dạn đưa ra ý kiến của bản thân . Vì vậy ngay từ đầu năm tôi đã vạch ra các biện pháp phải làm sao cho các em học sinh trong lớp, sau đó là các em học sinh trong trường mạnh dạn, tự tin, luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách, biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù hợp, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính mình. 11 2.3. Những yếu tố khách quan, chủ quan của sáng kiến được đề xuất trong thực hiện nhiệm vụ, công tác * Những yếu tố khách quan - Do sự phát triển của xã hội, sự tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường, thời gian gần đây có nhiều hoạt động vui chơi giải trí ngoài trường học, ngoài giờ học như: phim ảnh, trò chơi điện tử nên các em bị chi phối mất nhiều thời gian và sức lực không chú ý đến học tập và rèn luyện. - Một bộ phận phụ huynh chưa thật sự quan tâm, chăm lo con em mình học tập, còn phó thác cho nhà trường, cho thầy cô. Một số gia đình không hạnh phúc ảnh hưởng đến học tập và giáo dục đạo đức cùng với giáo viên của học sinh. Người lớn chưa làm gương về đạo đức cho các con. * Những yếu tố chủ quan - Giáo viên chưa biết cách khai thác kiến thức liên quan trong những bài để giáo dục đạo đức, kĩ năng sống cho học sinh. - Giáo viên chưa chú trọng đến việc hướng dẫn học sinh thực hiện các hành vi chuẩn mực đạo đức đã được học để vận dụng vào tình huống thực tế. - Do vốn từ còn hạn chế, ngôn ngữ nói chưa mạch lạc, mặt khác ở giai đoạn này các em chưa đủ nhận thức về việc làm của mình nên có những hành vi lời nói còn sai lệch. Từ những lý do khách quan và chủ quan đã nêu trên, thông qua việc học tập, giảng dạy trong những năm qua, tôi đã chọn đề tài “Một số biện pháp nhằm rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 3” này để nghiên cứu, nhằm tìm ra được phương pháp, hình thức tổ chức thích hợp nhất, vận dụng tốt nhất trong quá trình giảng dạy của mình giúp các em có những hành vi chuẩn mực để bước vào giai đoạn thay đổi cả về thể chất lẫn tâm hồn tạo cho các em có môi trường sống lành mạnh và trong sáng. 3. Các biện pháp Để đạt được hiệu quả trong công tác chủ nhiệm với việc rèn kĩ năng sống cho học sinh tôi đưa ra các biện pháp sau đây 12 Biện pháp 1: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền tầm quan trọng của kĩ năng sống với học sinh nói chung và học sinh tiểu học nói riêng 1. Mục tiêu của giải pháp Để phụ huynh, học sinh hiểu được tầm quan trọng của việc dạy kĩ năng sống trong nhà trường Tiểu học ngay từ đầu năm học, tôi đã ọh c tập nghiên cứu chuyên đề rèn kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học, về thực trạng và giải pháp ở đơn vị trong việc rèn kĩ năng sống cho học sinh bậc học Tiểu học do Bộ Giáo dục - Đào tạo phát động; qua đó giúp tôi hiểu được rằng chương trình học chính khoá thường cho trẻ tiếp xúc từ từ với các kiến thức văn hoá trong suốt năm học, còn thực tế trẻ sẽ học tốt nhất khi có được cách tiếp cận một cách cân bằng, biết cách phát triển các kĩ năng nhận thức, cảm xúc và xã hội. Vì thế, khi trẻ tiếp thu được những kĩ năng giao tiếp xã hội và các hành vi ứng xử cơ bản trong nhóm bạn, thì trẻ sẽ nhanh chóng sẵn sàng và có khả năng tập trung vào việc học văn hoá một cách tốt nhất. 2. Cách thức thực hiện biện pháp: Để thực hiện được biện pháp này tôi đã thực hiện một số biện pháp Tôi tuyên truyền qua các buổi họp phụ huynh, qua các kênh thông tin đại chúng, qua các cuộc gặp gỡ trao đổi với phụ huynh về tình tình học tập rèn luyện của học sinh để phụ huynh thấy được tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng sống cho học sinh trong và ngoài nhà trường. Trước hết, người lớn phải gương mẫu, yêu thương, tôn trọng, đối xử công bằng với các em và đảm bảo an toàn cho các em. Tạo điều kiện tốt nhất cho các em vui chơi. Cô giáo, cha mẹ luôn khuyến khích các em nói lên quan điểm của mình, nói chuyện với các thành viên trong lớp, trong gia đình về cảm giác và về những lựa chọn của mình, cần giúp các em hiểu rằng nên có thông số để theo đó mà lựa chọn, cố gắng không chỉ trích các quyết định của các em. Việc này sẽ hình thành kĩ năng tự kiểm soát bản thân, rèn luyện tính tự tin cho các em khi tham gia các hoạt động và các buổi thảo luận sau này. 13 Cô giáo, cha mẹ giúp các em phát triển sở thích, ý thích của mình và đảm bảo rằng người lớn có thể cung cấp thêm phương tiện để các em thực hiện ý thích đó. Cô giáo, cha mẹ cần dạy các em những nghi thức văn hóa trong ăn uống, biết cách sử dụng các đồ dùng ăn uống. Cụ thể: Các em được làm quen với những đồ dùng, vật dụng khác nhau. Sự sạch sẽ, gọn gàng, một thói quen nề nếp, sự sắp đặt ngăn nắp, ngay ngắn những bộ đồ dùng, vật dụng, thái độ ăn uống từ tốn, không vội vã, không khí cởi mở, thoải mái và đầm ấm, những cuộc trao đổi nhẹ nhàng, dễ chịu tất cả những yếu tố trên sẽ giúp các em có thói quen tốt để hình thành kĩ năng tự phục vụ và ý nghĩa hơn là kỹ năng sống tự lập sau này. 3. Hiệu quả đạt được của biện pháp. Qua biện pháp này giáo viên, phụ huynh đã nắm được chương trình giảng dạy kĩ năng sống không chỉ phụ thuộc vào giáo viên mà phụ huynh và học sinh đều phải phối hợp trong công tác giảng dạy và giáo dục học sinh. Phụ huynh tin tưởng và thông tin 2 chiều với giáo viên để giáo dục kịp thời các hành vi sai lệch của học sinh. * Ưu điểm: Tôi thấy biện pháp này ưu điểm là dễ thực hiện, tạo tình cảm gần gũi, gắn kết giữa giáo viên và phụ huynh để thu được hiệu quả giáo dục cao nhất trong việc rèn kĩ năng sống cho học sinh. Biện pháp 2: Giáo dục kĩ năng sống thông qua các môn học 1. Mục tiêu của giải pháp Kĩ năng sống được giáo dục ở nhà và ở trường. Kĩ năng sống được giáo dục trong các môn học chính khóa và ngoại khóa. Giáo dục kĩ năng sống cần bắt đầu từ nhỏ, từ từng hành vi cá nhân đơn giản nhất, theo đó hình thành tính cách và nhân cách. Cụ thể cần phải áp dụng một số biện pháp để những giờ học sao cho các em được làm để học, được trải nghiệm như trong cuộc sống thực. 2. Cách thức thực hiện biện pháp: Để thực hiện được biện pháp này tôi đã thực hiện một số biện pháp 14 * Gần gũi và tạo mối thân thiện với học sinh để phát triển khả năng giao tiếp. Đầu tiên, sau khi nhận lớp, để tạo sự gần gũi và gắn kết giữa học sinh và giáo viên chủ nhiệm, bản thân tôi đã sắp xếp nhiều thời gian cho học sinh được giới thiệu về mình, động viên khuyến khích các em chia sẻ với nhau về những sở thích, ước mơ tương lai cũng như mong muốn của mình với các em. Đây là hoạt động giúp cô trò hiểu nhau, đồng thời tạo một môi trường học tập thân thiện. Đây cũng là một điều kiện rất quan trọng để phát triển khả năng giao tiếp của học sinh. Bởi học sinh không thể mạnh dạn, tự tin trong một môi trường mà giáo viên luôn gò bó và áp đặt. Tiếp theo tôi lựa chọn vị trí ngồi của HS để qua đó phần nào nắm được đặc điểm tính cách của các em: mạnh dạn hay nhút nhát, thụ động hay tích cực, thích thể hiện hay không thích...Và tiếp tục chú ý quan sát những biểu hiện về thái độ học tập, những cử chỉ, hành vi tại vị trí ngồi để bắt đầu có điều chỉnh phù hợp. Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh có thể thực hiện trong bất cứ lúc nào, giờ học nào. Để việc rèn luyện diễn ra một cách thường xuyên và đạt hiệu quả cao tiếp tục qua biện pháp tiếp theo. * Rèn kĩ năng sống hiệu quả qua việc tích hợp vào các môn học. Để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh có hiệu quả bản thân tôi đã vận dụng vào các môn học, tiết học, nhất là các môn như: Tiếng Việt; Đạo đức; Khoa học; An toàn giao thông....để những giờ học sao cho các em được làm để học, được trải nghiệm như trong cuộc sống thực. Trong chương trình lớp 3, ở môn Tiếng Việt có nhiều bài học có thể giáo dục kĩ năng sống cho các em, đó là các kĩ năng giao tiếp xã hội, như dựa vào các bài tập đọc được lồng cụ thể qua các tình huống trong cuộc sống hàng ngày qua câu chuyện của các bạn như nai, thỏ, bạn voi. Bản thân tôi chỉ gợi mở sau đó cho các em tự nói một cách tự nhiên hoàn toàn không gò bó áp đặt. Bên cạnh đó, nhiều bài tập đọc có nội dung rèn luyện các tình huống giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày. Để hình thành những kiến thức và rèn luyện kĩ năng sống cho 15 học sinh qua môn Tiếng Việt, người giáo viên cần phải vận dụng nhiều phương pháp dạy phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh như: thực hành giao tiếp, trò chơi học tập, phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, phương pháp tổ chức hoạt động nhóm, phương pháp hỏi đáp, Thông qua các hoạt động học tập, được phát huy trải nghiệm, rèn kĩ năng hợp tác, bày tỏ ý kiến cá nhân, đóng vai, học sinh có được cơ hội rèn luyện, thực hành nhiều kĩ năng sống cần thiết. Ví dụ: khi dạy bài “Ngày gặp lại” tôi đã xác định được các kĩ năng cần giáo dục trong bài đó là: Thể hiện sự chia sẻ quan tâm, bạn bè. Tôi đã cho học sinh trải nghiệm và trình bày ý kiến cá nhân của mình để học sinh hình thành kĩ năng sống và có nhận thức về tình cảm chân thành của bạn bè. Ở môn Đạo đức, để các chuẩn mực đạo đức trở thành tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen của học sinh. Giáo viên phải sử dụng phương pháp dạy học đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Tổ chức cho học sinh thực hiện các hoạt động học tập phong phú, đa dạng như: kể chuyện theo tranh; quan sát tranh ảnh, băng hình, tiểu phẩm; phân tích, xử lí tình huống; chơi trò chơi, đóng tiểu phẩm, múa hát, đọc thơ, vẽ tranh, Sử dụng nhiều phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực như: học theo nhóm, đóng vai, trò chơi, Và chính thông qua việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực đó, học sinh đã được tạo cơ hội để thực hành, trải nghiệm nhiều kĩ năng sống cần thiết, phù hợp với lứa tuổi. Đó là lối sống lành mạnh, các hành vi ứng xử phù hợp với nền văn minh xã hội. Lối sống, hành vi như gọn gàng, ngăn nắp, nói lời đẹp, chăm sóc bố mẹ, ông bà, hợp tác, giúp đỡ, chia sẻ với bạn Ở môn Tự nhiên xã hội Chủ đề: Con người và sức khỏe giáo dục các em hiểu rằng ăn uống đủ chất và hợp lí giúp cho chúng ta khoẻ mạnh, biết phòng tránh một số bệnh lây qua đường tiêu hóa, có ý thức tự giác làm vệ sinh cá nhân hằng ngày, tự giác thực hiện nếp sống vệ sinh, khắc phục những hành vi có hại cho sức khoẻ. Biết tham gia các hoạt động và nghỉ ngơi một cách hợp lí để có sức khoẻ tốt. 16 Rèn kĩ năng sống có hiệu quả còn được bản thân vận dụng khá nhiều trong trong các môn học thông qua xử lí tình huống hay các trò chơi học tập có nội dung gần gũi với cuộc sống hằng ngày của các em. Các em làm việc tích cực, vui vẻ, tự mỗi em nói được tiếng nói, suy nghĩ của mình với bạn bè, với thầy cô một cách tự tin mạnh dạn. Việc rèn luyện các kĩ năng này đã tạo ra được thói quen tốt cho bản thân mỗi em, các em tham gia một cách chủ động tích cực vào quá trình học tập, tạo điều kiện cho các em chia sẻ những kinh nghiệm, ý kiến hay để giải quyết một vấn đề nào đó. Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua học tập – sinh hoạt ở nhà trường là điều hết sức cần thiết cho tương lai các em. Để đạt được điều đó, giáo viên cần kiên trì, quyết tâm thực hiện từng bước và liên tục trong suốt quá trình giảng dạy. 3. Hiệu quả đạt được của biện pháp Vậy việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua việc lồng ghép trong các môn học giúp các em vừa học vừa chơi, tiết học nhẹ nhàng, học sinh nắm được bài và đạt được kết quả giáo dục cao. * Ưu điểm: Tôi thấy biện pháp này ưu điểm là dễ thực hiện, học sinh được giáo dục trong thường xuyên, liên tục trong các môn học của chương trình học chính khóa bằng việc lồng ghép ở các tiết học nên hiệu quả giáo dục sẽ thu được kết quả cao nhất. Biện pháp 3: Phối kết hợp với đoàn thể, lực lượng trong và ngoài nhà trường trong việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua chủ đề của các ngày hội 1. Mục tiêu của biện pháp Sinh hoạt tập thể và tham gia các trò chơi bổ ích là nhu cầu, là sở thích của hầu hết các học sinh tiểu học. Vì vậy, khi tổ chức cho các em sinh hoạt tập thể và tham gia các trò chơi là giáo viên đó giúp các em “học mà chơi, chơi mà học”, kiến thức và kĩ năng ở mỗi em sẽ được hình thành và rèn luyện một cách 17 nhẹ nhàng, tự nhiên, không gây căng thẳng đối với các em. Ngoài ra, tổ chức sinh hoạt tập thể và vui chơi còn giúp các em phát triển và hoàn thiện nhân cách, bồi dưỡng năng khiếu và tài năng sáng tạo. Ngoài ra, việc tổ chức các hoạt động tập thể còn là sợi dây gắn bó, kết nối, đoàn kết các em lại với nhau. 2. Cách thức thực hiện biện pháp: Để thực hiện được biện pháp này tôi đã thực hiện một số biện pháp Căn cứ vào phiếu điều tra đầu năm, tôi nắm được khả năng của từng em nên tôi phân công vai diễn, múa hát hoặc giao việc phù hợp với từng em, khuyến khích động viên các em tự tin bộc lộ năng khiếu của mình. Nhờ vậy, các tiết học chính khóa trở nên sôi nổi, các em rất hào hứng tham gia. Thông qua các hoạt động vui chơi, các em được “làm”, “được trải nghiệm” như trong cuộc sống thực, điều đó sẽ giúp các em lĩnh hội kiến thức và rèn luyện kĩ năng sống một cách tích cực, nhẹ nhàng, nhưng mang lại hiệu quả cao.Ngày từ đầu năm nhà trường đã lên kế hoạch hoạt động cho từng tháng với những chủ điểm khác nhau phù hợp với từng tháng để học sinh hoạt động. - Tháng 10 với chủ điểm “Dạy tốt học tốt chào mừng ngày 20/10” Các em cùng thi đua dành nhiều giờ học tốt, ngày học tốt để thể hiện tình cảm của mình đối với bà với mẹ và cô. Và lên kế hoạt sinh hoạt chủ điểm chào mừng ngày 20/10 ngày thành lập hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Lớp tôi đã tổ chức được một tiết sinh hoạt chủ điểm trong dịp kỉ niệm ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, các con đã được làm những tấm thiệp với những lời chúc ý nghĩa dành tặng bà, mẹ và cô. Qua hội này các con vừa biết thể hiện được cảm xúc của mình với người mình yêu quý, vừa giáo dục đạo đức vừa thể hiện sự khéo léo của các em qua từng tấm thiệp. - Tháng 11 với chủ điểm “Tri ân thầy cô” nhân dịp 20/11. Bản thân tôi và học sinh cùng lên kế hoạch chuẩn bị các tiết mục văn nghệ đặc sắc để thi giữa các lớp nhằm tri ân các thầy cô. Lớp tôi đã tổ chức hát và múa phụ họa, được đông đảo tất cả các bạn tham gia nhiệt tình và đã giành giải nhất trong hội thi. Qua 18 tiết mục văn nghệ các em được thể hiện năng khiếu của bản thân từ đó giáo viên biết được năng khiếu của từng học sinh để có thể bồi dưỡng và phát huy. - Tháng 3 chủ điểm “Chúng em tiến bước lên Đoàn” lớp tổ chức các hoạt động tập thể tham gia Hội khoẻ Phù Đổng cấp trường, tiết chủ điểm “Thiếu nhi vui khỏe” chào mừng ngày thành lập Đoàn TNCS HCM. Qua các hoạt động này giúp các em hào hứng tập luyện và rèn luyện sức khỏe và hiểu ý nghĩa ngày thành lập Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Phối hợp với nhà trường tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao một cách thiết thực, khuyến khích sự tham gia chủ động, tự giác của học sinh. Tổ chức các trò chơi dân gian và các hoạt động vui chơi giải trí tích cực khác phù hợp với lứa tuổi của học sinh. Trong các giờ tập thể dục giữa giờ các em được múa hát, chơi các trò chơi dân gian, tập bài võ cổ truyền để sau mỗi giờ học các em được thư giãn thoải mái, rèn luyện sức khỏe tốt nhất để có thể học tập tốt hơn. Căn cứ vào nội dung trên, tôi đã xây dựng kế hoạch và thực hiện nhiều hoạt động một cách thiết thực, khuyến khích sự tham gia chủ động, tự giác của trẻ. Cụ thể như sau: Duy trì việc sinh hoạt ngoài giờ lên lớp theo chủ điểm để học sinh được học được chơi thông qua đó các em được hình thành và bộc lộ nhân cách từ đó giáo viên kịp thời uốn nắn. Tôi thường xuyên liên hệ với phụ huynh để kịp thời nắm tình hình của các em, trao đổi với phụ huynh những nội dung và biện pháp chăm sóc và giáo dục các em tại nhà, bàn bạc cách giải quyết những khó khăn gặp phải. Đưa ý kiến đề xuất với công an phường, đoàn thanh niên phường, khu phố tổ chức nhiều hoạt động trong dịp hè để các em được tham gia như: thực hiện an toàn giao thông thông qua việc đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên xe máy và xe đạp điện, văn nghệ, lao động dọn vệ sinh khu phố, đường làng, quét dọn nghĩa trang, nhà bia tưởng niệm liệt sỹ. Đó là hình thức giáo dục đạo đức cho các em trách nhiệm với địa phương nơi cư trú. Trong năm học lớp tôi đã không có học sinh nào vi phạm an toàn giao thông. 19 3. Hiệu quả đạt được của biện pháp Trong biện pháp này nhà trường nhà trường tổ chức nhiều sân chơi để học sinh có thể tham gia nhằm giúp các em được trải nghiệm và phát hiện ra những năng khiếu của từng học sinh để kịp thời bồi dưỡng và phát huy. Từ đó giúp các em tự tin hơn trong giao tiếp cũng như trong các hoạt động học tập. * Ưu điểm: Trong biện pháp này dễ thực hiện, có ưu điểm các con được tham gia tất cả các hoạt động học sinh được trải nghiệm, được hoạt động, được tuyên truyền qua đó giúp các em phát triển ngôn ngữ, tự tin giao tiếp và hoàn thiện thói quen đạo đức tốt cho các em. 3.2. Tính mới của sáng kiến Những biện pháp tôi đưa ra lần đầu áp dụng tại đơn vị; đảm bảo tính khoa học, các biện pháp tôi đưa ra đều xuất phát từ thực tế trong qua trình giảng dạy và giáo dục học sinh lớp tôi chủ nhiệm. Tất cả các biện pháp có mối quan hệ biện chứng với nhau, biện pháp này là tiền đề cho biện pháp kia, có những biện pháp là then chốt, có những biện pháp quan trọng, nhưng có những biện pháp tạo đà. Trong quá trình giảng dạy mỗi người dạy đều có những sáng tạo riêng, điều kiện, đối tượng, môi trường áp dụng khác nhau nhưng qua giảng dạy tôi tự rút ra những kinh nghiệm cho bản thân, đồng nghiệp áp dụng, thấy có hiệu quả và phát triển rộng rãi trong tổ khối, nhà trường. III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG Qua thời gian nghiên cứu và thực hiện của năm học 2023-2024, áp dụng các biện pháp nêu trên với lớp 3B2 có 34 học sinh của tôi đã có tiến bộ rõ rệt, cụ thể: So sánh kết quả đầu năm Hiệu quả thực hiện Trước khi áp Sau khi áp Sĩ số với kết quả biện pháp dụng dụng sau khi áp dụng 20 Kỹ năng mạnh dạn tự 15 = 42,8% 30 = 83,3% tin khi giao tiếp Tăng 40,5% Khả năng diễn đạt 19 = 54,3% 31 = 88,6% Tăng 34,3% Kỹ năng thể hiện cảm 18 = 51,3% 28 = 82,8% Tăng 31,6% 36 xúc Mạnh dạn khi ứng xử, 16 = 45,7% 29 = 82,9% giải quyết vấn đề Tăng 37,2% Kỹ năng vệ sinh, gọn 20 = 57,1% 32 = 91,4% Tăng 34,3% gàng - Học sinh đi học đều hơn, đạt tỷ lệ chuyên cần đạt từ 99% trở lên, có kĩ năng lao động tự phục vụ cho bản thân, biết thương yêu bạn bè trong cùng một mái trường, biết giúp đỡ bạn cùng tiến. 1. Khả năng áp dụng, phạm vi, lĩnh vực áp dụng Sáng kiến kinh nghiệm“Một số biện pháp rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 1” áp dụng có hiệu quả tại lớp 3A10 do tôi chủ nhiệm. Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã chia sẻ sáng kiến với đồng nghiệp trong tổ, khối, và đã được mọi người đánh giá cao. Cụ thể các lớp khối 1 của trường Tiểu học Đông Thành chúng tôi đã sử dụng các biện pháp tôi đưa ra vào dạy học tại lớp mình, kết quả cuối năm học sinh có kĩ năng lao động tự phục vụ cho bản thân, biết thương yêu bạn bè trong cùng một mái trường, biết giúp đỡ bạn cùng tiến. Tôi nghĩ giải pháp này, nếu trường Tiểu học Đông Thành cũng áp dụng giải pháp này vào giảng dạy và giáo dục kĩ năng sống cho học sinh sẽ mang lại kết quả cao. 2. Kết quả của việc áp dụng Từ những cố gắng nghiên cứu tài liệu, kinh nghiệm của bản thân, sự đồng thuận hợp tác của các bạn đồng nghiệp, sự ủng hộ tích cực của các bậc cha mẹ đã giúp tôi ạđ t được một số kết quả trong việc dạy các kĩ năng sống như sau: - 100% học sinh đều được giáo viên tạo mọi điều kiện khuyến khích, phát triển trí tưởng tượng, năng động, mạnh dạn, tự tin, 100% học sinh được rèn luyện khả năng sẵn sàng học tập ở trường phổ thông hiệu quả ngày càng cao.
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_ren_ki_nang_song_cho_hoc_sinh_lop_3.pdf



