Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 thực hiện tốt phép chia cho số có nhiều chữ số

pdf17 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 thực hiện tốt phép chia cho số có nhiều chữ số, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 MỤC LỤC 
I. PHẦN MỞ ĐẦU 
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................... Trang 1 
2. Mục đích nghiên cứu ........................................................................ Trang 1 
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................... Trang 1 
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ........................................................ Trang 2 
5. Phương pháp nghiên cứu .................................................................. Trang 2 
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
1. Cơ sở lí luận .......................................................................................Trang 3 
2. Cơ sở thực tiễn ...................................................................................Trang 3 
3. Các biện pháp ....................................................................................Trang 5 
III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG .......................................................Trang 13 
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ....................................................Trang 14 
 1 
 I. PHẦN MỞ ĐẦU 
1. Lí do chọn đề tài 
 Mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển 
những cơ sở ban đầu, rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam. 
Trong các môn học ở tiểu học, môn Toán có vị trí quan trọng. 
 Môn Toán không chỉ giúp học sinh lĩnh hội các kiến thức, rèn các kĩ 
năng tính toán mà còn giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, tưởng tượng, 
óc sáng tạo, thói quen làm việc khoa học, phát triển ngôn ngữ, tư duy lôgic, 
góp phần hình thành các phẩm chất, nhân cách của người lao động. Các kiến 
thức và kĩ năng trong môn Toán rất cần thiết trong đời sống hàng ngày, là 
công cụ giúp học sinh học tốt các môn học khác và để tiếp tục học lên các lớp 
trên. 
 Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy việc thực hiện phép 
tính chia cho số có hai, ba chữ số là một vấn đề mà học sinh đang gặp nhiều 
khó khăn nhất. Khi thực hiện phép chia, học sinh còn lúng túng trong việc tìm 
thương. Vậy làm thế nào để hướng dẫn các em hiểu và biết cách thực hiện 
phép chia một cách nhanh nhất, thành thạo nhất. Đó chính là điều mà tôi 
thường trăn trở, suy nghĩ. Vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài “Một số biện 
pháp giúp học sinh lớp 4 thực hiện tốt phép chia cho số có nhiều chữ số”. 
2. Mục đích nghiên cứu 
 Trang bị cho các em những kiến thức cơ sở ban đầu về kĩ năng chia. 
 Hình thành và rèn luyện kĩ năng thực hành tính như: nắm được kĩ năng 
đặt tính, biết làm các bước tính, ứng dụng thiết thực được trong đời sống. 
 Giáo dục học sinh ý thức, thái độ học tập đúng đắn. 
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 2 
 Tìm hiểu nguyên nhân học sinh không thực hiện được phép chia, chia 
chậm. 
 Ôn tập, củng cố, khắc sâu kiến kiến thức cơ bản về phép nhân, chia. 
Rèn luyện các kĩ năng thực hành tính nhẩm, tính viết về phép chia. 
 Hình thành tác phong học tập và làm việc có suy nghĩ, có kế hoạch, có 
kiểm tra có tinh thần hợp tác, độc lập và sáng tạo có ý thức vượt khó khăn, 
cẩn thận, kiên trì, tự tin. 
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 
4.1. Đối tượng nghiên cứu 
 Biện pháp thực hiện tốt phép chia cho số có nhiều chữ số. 
4.2. Phạm vi nghiên cứu 
 Học sinh lớp 4A 
5. Phương pháp nghiên cứu 
- Phương pháp khảo sát, điều tra. 
- Phương pháp giảng giải. 
- Phương pháp gợi mở. 
- Phương pháp luyện tập, thực hành 
- Phương pháp trò chơi 
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá. 
- Phương pháp xử lí số liệu. 
 3 
 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
1. Cơ sở lí luận 
 Trong các môn học ở Tiểu học, môn Toán là một môn học khó và mang 
nặng tính tư duy, trừu tượng. Việc dạy môn Toán ở Tiểu học nhằm giúp cho 
học sinh biết vận dụng những kiến thức về Toán, được rèn luyện kĩ năng thực 
hành với những yêu cầu cần được thể hiện một cách phong phú. Nhờ vào việc 
học Toán mà học sinh có điều kiện phát triển năng lực tư duy, tính tích cực, 
rèn luyện phương pháp luận và hình thành những phẩm chất cần thiết của 
người lao động. Học tốt môn Toán, học sinh sẽ có một nền tảng vững chắc để 
học các môn khác và học lên các bậc học trên. Ngoài ra, học sinh biết vận 
dụng những kiến thức đã học vào giải quyết các tình huống, các vấn đề trong 
cuộc sống. 
 Chương trình Toán ở Tiểu học xoay quanh các mảng kiến thức đồng 
tâm từ lớp 1 đến lớp 5. Mỗi mạch kiến thức đều có vai trò rất quan trọng, tác 
động lẫn nhau. Rèn kĩ năng tính toán cho học sinh là một nhiệm vụ quan 
trọng và rất cần thiết, trong đó có việc rèn kĩ năng chia. 
 Và với mục tiêu dạy học như hiện nay - lấy học sinh làm trung tâm thì 
phương pháp hướng dẫn học sinh thực hiện phép chia thành thạo là yếu tố rất 
quan trọng. Xác định được vị trí, vai trò, tác dụng và ý nghĩa quan trọng như 
vậy nên trong quá trình giảng dạy, tôi luôn tìm tòi, nghiên cứu, tích lũy kinh 
nghiệm để giúp học sinh học tốt mảng kiến thức này. 
2. Cơ sở thực tiễn 
 Từ lớp 2, lớp 3 học sinh đã được học và vận dụng thực hành phép chia 
cho số có một chữ số, nắm được các bước tính. Giáo viên cũng rất nhiệt tình 4 
trong việc hướng dẫn các em thực hiện phép chia. Đến đầu năm lớp 4, các em 
cũng được ôn lại phép chia cho số có một chữ số. Nhưng thực tế cho thấy, học 
sinh thực hiện phép chia rất khó khăn. Nhiều em không thực hiện được phép 
chia hoặc chia được nhưng rất chậm chiếm rất nhiều thời gian mới chia được. 
 Khảo sát về kĩ năng thực hiện phép chia lớp 4 cuối năm học 2021-2022, 
tôi thu được kết quả như sau: 
 Tỉ lệ học sinh Tỉ lệ học sinh Tỉ lệ học sinh chưa 
 Khảo sát chia tốt chia chậm chia được 
 cuối năm 
 (%) (%) (%) 
 2021 - 2022 
 37,5 53,1 9,4 
Vậy những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên xuất phát từ hai phía: 
Về phía học sinh: 
- Phương pháp học tập chưa tốt: Một số em không thuộc được bảng nhân, 
bảng chia, chưa nắm được các thành phần của phép chia; không hiểu được 
mối quan hệ giữa phép nhân và phép chia. 
- Sự chú ý, óc quan sát, trí tưởng tượng đều phát triển chậm. 
- Khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ khó khăn, sử dụng ngôn ngữ, thuật ngữ 
toán học lúng túng, nhiều chỗ lẫn lộn. 
- Học sinh chưa chăm học: Qua quá trình giảng dạy, bản thân nhận thấy rằng 
các em không thực hiện được phép chia là những em không chú ý chuyên tâm 
vào việc học, không xác định được mục đích của việc học. 
- Khả năng tư duy của các em còn hạn chế: Một số học sinh thuộc bảng nhân 
nhưng kiểu học vẹt, không hiểu được mối quan hệ giữa phép nhân và phép 
chia dẫn đến không ước lượng được thương, thực hiện phép chia khó khăn. 5 
Về phía giáo viên: 
 Trong quá trình dạy học, việc hướng dẫn học sinh tìm cách ước lượng 
thương trong phép chia đôi khi không được chú ý một cách tỉ mỉ, chưa linh 
hoạt trong việc vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp. 
 Từ kết quả khảo sát trên cho thấy chất lượng chia còn thấp nên tôi 
quyết định chọn đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 thực hiện tốt 
phép chia cho số có nhiều chữ số”. 
3. Các biện pháp 
3.1. Biện pháp 1: Khảo sát và phân loại đối tượng học sinh 
 Khảo sát và phân loại học sinh với mục đích nắm được đối tượng của 
mình để đề ra những biện pháp hợp lý nhất. 
 Tôi đã thực hiện khảo sát học sinh thông qua một bài kiểm tra tổng hợp 
các kiến thức về phép nhân, phép chia đã học. 
 Thời điểm khảo sát: sau khi học xong bài Chia cho số có hai chữ số. 
 Qua bài kiểm tra khảo sát tôi đã thống kê thành các nhóm như sau: 
- Nhóm 1: Nhóm HS đã thực hiện tốt phép chia cho số có hai chữ số. 
- Nhóm 2: Nhóm HS đã biết thực hiện phép chia và ứng dụng tốt vào giải toán 
có liên quan. 
- Nhóm 3: Nhóm HS thực hiện được phép chia này nhưng còn chậm. 
- Nhóm 4: Nhóm HS chưa thực hiện được phép chia. Có rất nhiều nguyên 
nhân khiến nhóm HS này chưa thực hiện được phép chia, nhưng tập trung chủ 
yếu ở 2 nguyên nhân sau: 
 + Nguyên nhân 1: HS chưa thuộc bảng nhân chia hoặc nếu có thuộc thì rất 
“mơ màng” hay thuộc vẹt. Có em đọc được bảng chia theo thứ tự nhưng đột 6 
ngột hỏi phép chia bất kì ở giữa bảng chia thì không tìm được hoặc lại phải 
đọc lại từ đầu bảng chia, 
 + Nguyên nhân 2: Với những phép chia cần làm tròn để dễ nhẩm thương 
thì HS chưa hiểu và chưa biết làm tròn SBC và SC trong mỗi lượt chia dẫn 
đến kết quả thường sai. 
 Để khắc phục hạn chế và phát huy năng lực của từng đối tượng học 
sinh, tôi cũng đã có những biện pháp cụ thể cho từng đối tượng học sinh như 
sau: 
+ Nhóm 1,2: Học sinh đã thực hiện tốt phép chia cho số có hai chữ số và biết 
vận dụng để giải các bài toán có liên quan thì phải nâng cao yêu cầu hơn nữa 
để phát huy được tối đa năng lực của từng học sinh. Trong mỗi giờ học, học 
sinh đã hoàn thành nhiệm vụ chung thì học sinh sẽ được giao thêm nhiệm vụ 
để học sinh có thể tận dụng thời gian để nâng cao kiến thức. 
+ Nhóm 3: Học sinh thực hiện còn chậm thì tôi thường dành nhiều thời gian 
hơn trong các tiết học, tập trung vào các kiến thức cơ bản để học sinh có thể 
thực hiện nhiệm vụ học tập. Ngoài ra tôi thường xuyên kiểm tra kiến thức cũ 
để học sinh thường xuyên được nhắc lại nên sẽ nhớ và vận dụng để làm bài. 
+ Nhóm 4: Đối với những học sinh chưa thực hiện được phép chia chỉ chiếm 
phần rất nhỏ trong lớp, hầu như trong 1 tiết học trên lớp thì học sinh chưa thể 
thực hiện được các yêu cầu của bài mà cần phải có thêm thời gian để học sinh 
ôn tập và nắm chắc hơn kiến thức. Vì vậy, tôi thường dành thời gian vào các 
giờ ra chơi, cuối buổi học để phụ đạo và hướng dẫn học sinh chi tiết các bước 
thực hiện phép tính, để học sinh hiểu cách làm, từ đó học sinh sẽ tự tin hơn 
trong việc học của mình. 
 Trong thực tế ở các trường Tiểu học, còn không ít học sinh yếu toán, 
đặc biệt còn một bộ phận nhỏ học sinh không thuộc các bảng chia, không biết 
thực hiện các phép chia ngoài bảng hoặc chia hay bị sai. Trong khi đó, phép 7 
chia được coi là cốt lõi, là cơ sở để học sinh tiếp thu tốt các kiến thức khác. 
Hiện tượng này do nhiều nguyên nhân, chủ yếu do các em chưa có phương 
pháp học tập. Trên thực tế nhiều giáo viên giảng dạy còn phụ thuộc nhiều vào 
sách hướng dẫn, chưa thực sự tìm tòi, sáng tạo để phát huy được tính tích cực 
của học sinh. Do đó, chưa hình thành ở học sinh thái độ và năng lực tự đánh 
giá. Đó là phương tiện rất cần thiết trong học tập để học sinh ý thức được về 
khả năng của bản thân, tạo ra động cơ để các em tự phấn đấu, vươn lên và tự 
hoàn thiện. 
 Hiệu quả: Từ việc khảo sát và phân loại đối tượng học sinh thì tôi đã 
có những biện pháp cụ thể cho từng nhóm đối tượng học sinh và việc vận 
dụng những biện pháp đó đã giúp học sinh chậm tiến có tiến bộ rất nhiều 
trong học tập. 
3.2. Biện pháp 2: Kết nối các kiến thức đã học 
 Thuộc bảng nhân, bảng chia: Đối với những học sinh không thực hiện 
được phép chia từ nguyên nhân không thuộc bảng nhân, bảng chia thì giáo 
viên phải kiểm tra. Việc học sinh thuộc được bảng nhân, bảng chia xem như 
giáo viên đã thành công một bước trong quá trình hướng dẫn học sinh thực 
hiện phép chia. Vì vậy, trong mỗi tiết học toán giáo viên phải thường xuyên 
kiểm tra bảng nhân, bảng chia. 
 Các cách thực hiện: 
Cách 1: Trong các giờ truy bài, tôi kiểm tra liên tục nhưng không theo một 
thứ tự nhất định mà tôi hỏi bất kì một phép tính chia nào trong bảng. Đối với 
các em học chậm, chưa chịu khó học bài tôi thường xuyên nhắc nhở, động 
viên các em học tập. 
Cách 2: Để các em ứng xử nhanh, giáo viên tổ chức cho các em chơi trò chơi 
“xì điện” trả lời nhanh, đúng kết quả để các em có kĩ năng nhớ lâu, nhẩm 
nhanh khi thực hiện tính. 8 
Cách 3: Bên cạnh việc ghi nhớ bảng chia bằng cách học thuộc các bảng chia 
đó, tôi còn giúp các em ghi nhớ một cách ngắn gọn như viết các số bị chia của 
từng bảng theo một dãy số như: 
Bảng chia 2: 
2 4 6 8 10 12 14 16 18 20 
thì thương lần lượt là: 
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 
Bảng chia 3: 
3 6 9 12 15 18 21 24 27 30 
thì thương lần lượt là: 
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 
Bảng chia 4: 
4 8 12 16 20 24 28 32 36 40 
thì thương lần lượt là: 
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 
Tương tự với các bảng chia 5, 6, 7, 8, 9 
 Nắm chắc cách nhân với số có nhiều chữ số: Học sinh cần nắm chắc 
các quy tắc nhân với số có hai, ba chữ số; nhân với số có tận cùng là chữ số 0; 
nhân nhẩm số có hai chữ số với 11. Việc nắm chắc cách nhân với số có nhiều 
chữ số sẽ giúp các em vận dụng vào phép chia cho số có nhiều chữ số một 
cách thành thạo. 
 Nắm chắc kiến thức về phép chia: Học sinh phải nắm được tính chất 
của các phép chia (chia một tổng cho một số, chia một số cho một tích, chia 
một tích cho một số, chia hai số có tận cùng là các chữ số 0, thương có chữ số 9 
0); nắm chắc các bước thực hiện và thực hiện thành thạo phép chia cho số có 
một chữ số. Từ đó học sinh sẽ vận dụng những kiến thức đã học để thực hiện 
phép chia cho số có nhiều chữ số. 
 Hiệu quả: Việc kết nối các kiến thức đã học đã giúp tôi dễ dàng trong 
việc dạy kiến thức mới, giúp các em học sinh biết liên hệ từ những kiến thức 
đã biết đến những kiến thức mới. Học sinh đã chủ động hơn trong việc tìm tòi 
và chiếm lĩnh kiến thức mới, từ đó học sinh sẽ khắc sâu được kiến thức. 
3.3. Biện pháp 3: Hướng dẫn cách “ước lượng thương” 
 Song song với việc ghi nhớ các phép chia trong bảng thì việc nhẩm 
thương cũng rất quan trọng và việc rèn kĩ năng ước lượng thương là một quá 
trình. Mục đích của việc ước lượng thương là để tìm thương trong các lượt 
chia một cách nhanh nhất. Có những cách để ước lượng thương như sau: 
3.3.1 Làm tròn xuống 
a) Đối với phép chia cho số có hai chữ số 
Nếu số bị chia và số chia có tận cùng là 1, 2, 3, 4, 5 thì ta sẽ làm tròn giảm. 
Tức là sẽ bớt ở số bị chia và số chia đi 1, 2, 3, 4, 5 đơn vị. 
Ví dụ Tìm thương trong phép chia 64 : 21. Ta thấy 64 và 21 có tận cùng là 1, 
4 nên làm tròn 64 thành 60, 21 thành 20. Rồi nhẩm 60 : 20 = 3 
Khi thực hành, ta nhẩm như sau: 64 : 21 (nhẩm 6 : 2 = 3) 
Sau khi nhẩm được thương là 3, ta phải thử lại 3 x 21 = 63, 64 – 63 = 1, 1 < 
21 nên lấy thương là 3. 
b)Đối với phép chia cho số có ba chữ số 10 
Nếu số bị chia và số chia có hai chữ số ở hàng chục và đơn vị nhỏ hơn 50 thì 
ta làm tròn thành số tròn trăm rồi nhẩm thương như cách nhẩm của phép chia 
cho số có hai chữ số. 
Ví dụ: 743 : 346 = ? 
 Ta thấy 43 và 46 đều nhỏ hơn 50 nên nhẩm 7 : 3 được 2. 
 Thử lại 2 x 346 = 692, 743 – 692 = 51, 51 < 346 nên 743 : 346 được 2. 
3.3.2 Làm tròn lên 
a) Đối với phép chia cho số có hai chữ số 
Nếu số bị chia và số chia có tận cùng là 7, 8, 9 thì ta sẽ làm tròn tăng. Tức là 
sẽ thêm ở số bị chia và số chia 3, 2, 1 đơn vị. 
Ví dụ: 97 : 38 = ? 
 Ta thấy tận cùng của số bị chia và số chia là 7 và 8 nên làm tròn 97 -> 100, 
38 -> 40 sau đó nhẩm 10 : 4 được 2. 
 Thử lại 2 x 38 = 76, 98 – 76 = 22, 22 < 38 nên 97 : 38 được 2. 
b) Đối với phép chia cho số có ba chữ số 
 Nếu số bị chia và số chia có hai chữ số ở hàng chục và đơn vị lớn hơn 50 thì 
ta làm tròn lên thành số tròn trăm. 
Ví dụ: 889 : 267 = ? 
 Ta thấy 89 và 67 đều lớn hơn 50 nên làm tròn 889 -> 900, 267 -> 300 rồi chia 
nhẩm 9 : 3 = 3 
 Thử lại 3 x 267 = 801, 889 – 801 = 88, 88 < 267 nên 889 : 267 được 3. 
3.3.3 Một số thủ thuật khác 
 Trong thực tế, việc làm tròn và ước lượng thương không phải lúc nào 
cũng đúng. Nhiều trường hợp nếu đem áp dụng làm tròn và ước lượng thì 11 
thương tìm được không chính xác và rất mất thời gian nên giáo viên cần 
hướng dẫn các em cần có sự quan sát và nhân nhẩm, trừ nhẩm để việc xác 
định thương nhanh và chính xác hơn. Sau đây là một vài trường hợp cụ thể: 
 - Trong phép chia cho số có hai chữ số, nếu số chia (SC) có tận cùng là 5 thì 
học sinh tập nhân nhẩm SC với 2; 3; 4 để xác định thương nhanh hơn. 
Chẳng hạn: 15 x 2 = 30; 15 x 3 = 45; 15 x 4 = 60; 25 x 2 = 50; 25 x 3 = 75; 
Ví dụ 1 105 : 25 = ? 
Ta thấy 4 x 25 = 100 Vậy 105 : 25 được 4. 
 Nếu học sinh đã thành thạo trong các thủ thuật làm tròn và ước lượng 
thương rồi, GV cần hướng dẫn học sinh tập nhân nhẩm nhanh thương vừa tìm 
được với hàng đơn vị của SC để xác định số nhớ khi đem trừ nhẩm, rồi nhân 
thương với hàng còn lại, lấy kết quả thêm số nhớ để kiểm tra phần còn lại của 
SBC có đủ trừ không, từ đó sẽ xác định được thương nhanh và đúng hơn. 
- Trong trường hợp SBC và SC chỉ có hai chữ số, nếu xét thấy hàng chục 
của SBC chia cho hàng chục của SC chỉ được 1 lần thì không phải làm tròn 
mà ghi 1 vào thương. 
 VD: 49 : 31 được 1 lần; 97 : 52 được 1 lần; . 
 - Với những phép chia đơn giản, dễ làm, dễ thấy thì giáo viên không cần 
đưa ra cách nhẩm mà có thể yêu cầu học sinh tìm ngay kết quả. 
 VD: 50 : 25 ta thấy 1 x 25 = 25 ; 2 x 25 = 50 nên nhẩm 
được ngay 50 : 25 = 2 
 Hiệu quả: Học sinh biết vận dụng cách ước lượng thương và một số 
thủ thuật khi thực hiện phép tính đã giúp học sinh làm toán nhanh và chính 
xác hơn, phát triển năng lực tư duy toán học và vận dụng vào giải toán. 
3.4. Biện pháp 4: Rèn kĩ năng chia 12 
 Để thực hiện nhẩm thương đúng trước tiên học sinh phải có kĩ năng 
chia. Kĩ năng chia ở đây bao gồm: kĩ năng đặt tính, kĩ năng thực hiện tính. 
Đặt tính: Khi thực hiện phép chia cho số có nhiều chữ số, học sinh cần phải 
đặt tính dọc. 
Thực hiện tính: Thực hiện tính theo quy tắc: Lấy lần lượt từng chữ số của 
SBC chia cho số chia bắt đầu từ trái sang phải. Mỗi phép chia có thể có 1 
hoặc nhiều lượt chia. Cách xác định các lượt chia như sau: 
 Đặt dấu phẩy đánh dấu số bị chia trong lượt chia đầu tiên. Trong thực 
tế, HS rất dễ nhầm lẫn sau mỗi lượt chia khi số dư lớn hơn hoặc bằng số chia 
(HS nhóm 3). Khi gặp tình huống này tôi thấy rất nhiều em (kể cả những em 
học trong nhóm 1,2). Để giúp học sinh, tôi hướng dẫn các em xác định SBC 
trong lượt chia đầu tiên rồi đánh dấu phẩy trên đầu chữ số tận cùng của số đó. 
Sau đó cho HS đếm bắt đầu từ chữ số có dấu phẩy sang phải đến hết để xác 
định số lượt chia. Có bao nhiêu lượt chia thì kết quả của phép tính sẽ có bấy 
nhiêu chữ số. Từ đó giúp HS kiểm tra ngay sau mỗi phép tính của mình. 
 Với cách đánh dấu trên, HS dễ dàng biết được trong mỗi phép tính sẽ có 
mấy lượt chia và kiểm tra được kết quả sau mỗi phép tính. 
 Những lưu ý khi thực hiện phép chia: 
 + Sau lượt chia thứ nhất, bắt đầu lượt chia thứ hai mỗi lượt chia, ta chỉ 
được hạ một chữ số của số bị chia, nếu không đủ chia ta phải viết thêm 0 vào 
bên phải thương rồi mới hạ tiếp. 
 + Số dư trong tất cả các lượt chia đều nhỏ hơn số bị chia trong các lượt 
chia ấy. 
 + Khi chia xong cần thử lại kết quả của phép chia đó bằng cách: Nếu là 
phép chia hết: lấy thương nhân với số chia. Số tìm được trùng với SBC thì 13 
phép chia đúng. Nếu là phép chia có dư: lấy thương nhân với số chia rồi cộng 
với số dư. Số tìm được trùng với SBC thì phép chia đúng. 
 Hiệu quả: Qua việc rèn kĩ năng, học sinh đã nắm chắc, ghi nhớ và thực 
hiện đúng các bước khi đặt tính và thực hiện tính; rèn tính cẩn thận khi làm 
bài, biết thử lại sau khi thực hiện tính, từ đó học sinh sẽ có kết quả tính chính 
xác. 
3.5. Biện pháp 5: Luyện tập, thực hành 
 Sau khi học sinh đã nắm được các cách thực hiện, giáo viên cần tiếp tục 
cho các em luyện tập thêm vào các buổi học tiếp theo.Trong quá trình hướng 
dẫn học sinh, giáo viên phải kiên trì, đi từng dạng bài tập. Với mỗi dạng, giáo 
viên hướng dẫn thật kĩ. Khi đã nắm vững kĩ năng, thao tác từng bước tính thì 
hướng dẫn học sinh thực hiện bước tính trừ nhẩm để phép tính được trình bày 
ở dạng ngắn gọn hơn. 
 Sau mỗi bài toán, khi tìm được kết quả phép tính, giáo viên nên tập cho 
học sinh thử lại kết quả: Lấy thương nhân số chia, cộng số dư( nếu có), nếu 
cho kết quả bằng số bị chia thì phép chia đó đúng. 
 Ngoài ra, việc tổ chức “ Trò chơi” trong quá trình học tập cũng chiếm 
một vị trí hết sức quan trọng trong việc củng cố các lượt chia, cách viết đúng. 
Vào đầu giờ học, tôi thường tổ chức cho học sinh chơi trò chơi “Ai nhanh, ai 
đúng”. Em nào nhanh, đúng sẽ có thưởng. Học sinh rất hứng thú với trò chơi 
và bắt đầu tiết học nhẹ nhàng với tâm thế thoải mái. 
 Hiệu quả: Sau các tiết học, học sinh được thực hành luyện tập nhiều 
lần đã giúp các em thực hiện thành thạo các bước tính; tham gia vào các trò 
chơi học tập giúp học sinh học tập thoải mái tự tin, tích cực hơn, mang lại 
hiệu quả học tập cao hơn. 
III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 14 
 Kết quả: Qua quá trình áp dụng các biện pháp trên (từ tháng 9/2022 
đến tháng 3/2023) tôi nhận thấy học sinh có sự thay đổi vượt bậc. Học sinh 
được ôn tập củng cố và khắc sâu kiến thức. Học sinh biết cách vận dụng bảng 
nhân chia trong thực hành tính và giải toán một cách chính xác. Khắc phục 
được tình trạng học sinh mắc sai lầm khi thực hiện phép tính. Từ đó, học sinh 
đã mạnh dạn, tự tin hơn trong các tiết học, chủ động tìm tòi và phát hiện kiến 
thức mới. Kết quả học tập có sự thay đổi rõ rệt so với học sinh của năm học 
trước. Tôi đã thực hiện khảo sát và thu được kết quả như sau: 
 Tỉ lệ học sinh Tỉ lệ học sinh Tỉ lệ học sinh 
 Khảo sát 
 cuối năm chia tốt (%) chia chậm (%) chưa chia được(%) 
 2021-2022 
 37,5 53,1 9,4 
 Khảo sát 
 75 25 0 
 tháng 3 
 Tuy vẫn còn học sinh vận dụng kiến thức chưa linh hoạt do chưa có 
thời gian nhiều để rèn luyện kĩ năng nên đôi chỗ các em còn nhầm lẫn. Đó 
cũng là điều dễ hiểu – Học sinh tiểu học còn hiếu động, các em đang trong 
giai đoạn hình thành kỹ năng và cũng là bài học kinh nghiệm để giáo viên rút 
kinh nghiệm, điều chỉnh cho những năm học sau. 
 Ứng dụng: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 thực hiện tốt phép 
chia cho số có nhiều chữ số” tôi đã áp dụng cho học sinh lớp 4A và biện 
pháp có thể áp dụng rộng rãi tới tất cả các lớp khác. 
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 
 Như vậy việc làm toán nói chung và việc giải quyết “Bài toán chia 
cho số có nhiều chữ số” nói riêng là một hoạt động có tính “ trí tuệ”. Do đó 15 
đòi hỏi ở người dạy, người học phải dùng hết khả năng, vốn hiểu biết của 
mình thì mới làm được. 
 Đào tạo thế hệ tương lai của đất nước là công việc hết sức quan 
trọng, đào tạo nên con người có ích cho xã hội là một việc làm không chỉ một 
người làm nên mà phải là cả xã hội trong đó người đào tạo nên nhân cách tri 
thức trẻ là người giáo viên nhân dân. 
 Qua quá trình thực hiện đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 
thực hiện tốt phép chia cho số có nhiều chữ số”, tôi đã rút ra được những 
kinh nghiệm sau: 
 Kiên trì, nhiệt tình để dẫn dắt hướng dẫn học sinh thực hiện phép chia 
với bài mới cũng như luyện tập. 
 Luôn động viên học sinh cố gắng học thuộc các bảng nhân chia , rèn 
cách nhân nhẩm trừ nhẩm thành thạo để tạo sự thuận lợi trong khi thực hiện 
phép chia. 
 Cẩn thận, mẫu mực trong chấm bài của học sinh. Cần có lời nhận xét 
mang tính động viên, gợi mở để kích thích các em thêm hứng thú với môn 
học. Giáo viên phải luôn đổi mới phương pháp, dạy học theo hướng “Lấy 
học sinh làm trung tâm”, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học 
sinh. Có như vậy mới mang lại hiệu quả cao trong giáo dục nói chung, trong 
dạy học nói riêng. 
 Tôi xin trân trọng cảm ơn! 
 16 

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_4_thuc_hien_tot_phep_chia.pdf