Giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 3 thông qua tiết sinh hoạt tập thể

docx14 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 17 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 3 thông qua tiết sinh hoạt tập thể, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 1. Tên giải pháp: Giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 3 thông qua tiết sinh 
hoạt tập thể.
2. Ngày giải pháp được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử
 Áp dụng thử nghiệm từ tháng 9 năm 2020 đến nay.
3. Các thông tin cần bảo mật (nếu có): Không
4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm:
 + Sinh hoạt lớp chưa thực sự được xem trọng, chủ yếu được tổ chức để nhận xét, 
đánh giá tuần học.
 + Giáo viên đóng vai trò chủ đạo trong tiết sinh hoạt lớp, việc tổng hợp, nhận xét, 
thông báo kế hoạch chủ yếu do giáo viên thực hiện thông báo. Giáo viên làm trung tâm 
tiết học.
 + Một số giáo viên thực hiện thời lượng tiết dạy ít, dành thời gian tiết dạy cho việc 
chữa kiến thức môn học khác.
Qua tìm quan sát và tìm hiểu tôi thu được bảng số liệu sau: 
 Biết xử lí một số Xử lí linh hoạt 
 Xử lí được các 
 Chưa có kĩ năng, tình huống đơn các tình huống, 
 tình huống, 
 Sĩ luống cuống, giản vận dụng
 Thời gian biết vận dụng 
 số rụt rè, chưa biết bước đầu có kĩ linh hoạt các kĩ 
 vào
 vận dụng năng, chưa vận năng vào cuộc 
 cuộc sống
 dụng tốt sống
 SL % SL % SL % SL %
 Đầu năm học 
 2020 - 2021 30 10 33,3 11 36,7 5 16,7 4 13,3
 Bảng số liệu phản ánh các kĩ năng của học sinh chưa tốt. Những hạn chế trên xuất 
phát từ những nguyên nhân sau:
- Việc tổ chức dạy học lồng ghép kĩ năng sống vào tiết sinh hoạt lớp chưa được nhiều 
giáo viên quan tâm. Một số giáo viên chưa có kinh nghiệm, còn lúng túng trong tổ chức 
lồng ghép vào tiết học, bị ảnh hưởng từ thói quen chú trọng vào việc nhận xét tuần hiện 
tại, giao nhiệm vụ tuần kế tiếp, ít quan tâm đến hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho 
học sinh. 
- Học sinh ít có cơ hội bày tỏ quan điểm, nhận thức, chia sẻ góp ý cùng bạn hoặc các 
vấn đề trong tiết học về các kĩ năng sống.
- Nhiều học sinh không bày tỏ được quan điểm, sự hiểu biết do lo lắng quan điểm sai, 
sợ bị trách phạt hoặc do nhút nhát, rụt rè, ngại tham gia các hoạt động tập thể, coi 
nhiệm vụ học tập trong tiết sinh hoạt không quan trọng, phụ thuộc vào bạn có năng lực 
hơn.
- Học sinh chưa có kĩ năng do nhiều gia đình nuông chiều con, các em không có kỉ luật, 
tự do hành động theo mong muốn, không được trải nghiệm, ít biết công việc, kĩ năng 
trong cuộc sống. Một số gia đình ít tạo điều kiện cho học sinh giao tiếp với bạn bè, mọi 
người xung quanh tạo thành thói quen ngại chia sẻ, thiếu chủ động, không biết bày tỏ 
quan điểm, thái độ với các sự việc diễn ra hằng ngày. 
5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp:
- Từ nhiều năm trở lại đây, với quan điểm nâng cao năng lực và phẩm chất cho học sinh 
Tiểu học, dưới sự chỉ đạo của PGD&ĐT Yên Thế, Trường Tiểu học Đổng Kỳ đã triển khai 
chỉ đạo giáo viên thực hiện nhiệm vụ thông qua việc đổi mới phương pháp giảng dạy 
các môn và các hoạt động trải nghiệm, hoạt động dưới cờ, sinh hoạt tập thể. Trong đó 
việc nâng cao kĩ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động lồng ghép được triển khai 
cụ thể, thực hiện ở các lớp trong nhà trường. Tuy nhiên hoạt động giáo dục kĩ năng sống 
của học sinh trong các tiết sinh hoạt ở nhiều trường, nhiều lớp chưa được chú trọng, 
học sinh còn nghèo kĩ năng trong cuộc sống. - Là người GVCN lớp, khi đứng trước những khó khăn mà học sinh lớp mình gặp phải, 
bản thân tôi nhận thấy mình cần phải làm gì đó để thay đổi học sinh, mang đến cho học 
sinh những giờ học hứng thú, bổ ích. Đồng thời tôi khát khao thay đổi giờ sinh hoạt lớp 
trở thành tiết giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, mang lại cảm giác vui tươi, thoải mái, 
tạo trạng thái hồ hởi, mong đợi cho học sinh mỗi tuần. Vì vậy “Giải pháp giáo dục kĩ 
năng sống cho học sinh lớp 3 thông qua tiết sinh hoạt tập thể” sẽ giúp học sinh nâng 
cao kĩ năng sống, phát huy năng lực chủ động, sáng tạo, mạnh dạn trong học tập, trong 
cuộc sống. Đồng thời rèn cho học sinh các phẩm chất theo thông tư 22 - chương trình 
hiện hành, hướng đến thông tư 27 - chương trình GDPT 2018.
 6. Mục đích của giải pháp:
 Giúp học sinh có năng lực, phẩm chất tốt, biết chủ động, sáng tạo trong mọi hoạt 
động học tập, trải nghiệm. Đặc biệt học sinh biết vận dụng kĩ năng từ bài học vào cuộc 
sống linh hoạt. 
 Tiết sinh hoạt lớp sẽ giúp các em phát triển các năng lực và phẩm chất như: tính 
tự giác, đoàn kết giúp đỡ, hợp tác, kĩ năng tự đánh giá mình và đánh giá bạn, sự chủ 
động chia sẻ hiểu biết, quan điểm với thầy cô, bạn bè. Đặc biệt đối với học sinh lớp 3, 
lớp học với các em là ngôi nhà thứ hai, nơi gắn bó và để lại trong các em những kỉ niệm 
đẹp đẽ khó quên, những bài học bổ ích. Lồng ghép giáo dục kĩ năng sống trong tiết sinh 
hoạt tập thể ở lớp là những ấn tượng tốt đẹp giúp các em hứng thú khi đến lớp, biết 
đoàn kết, yêu thương bạn bè. 
 Qua các hoạt động giáo dục kĩ năng sống ở tiết sinh hoạt tập thể sẽ để lại cho các 
em những bài học về kĩ năng sống quý báu để các em phát huy phẩm chất, năng lực vào 
các hoạt động học tập và vui chơi trong cuộc sống hằng ngày. 
7. Nội dung:
7.1. Thuyết minh giải pháp: “Giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 3 thông 
qua tiết sinh hoạt tập thể”. Giải pháp 1: Xây dựng kế hoạch lồng ghép giáo dục phù hợp với chương trình và 
học sinh lớp chủ nhiệm
1. Nội dung:
- Thực hiện kế hoạch giáo dục dạy học các môn học của nhà trường về lồng ghép giáo 
dục kĩ năng sống vào tiết sinh hoạt tập thể, giáo viên chủ nhiệm chủ động xây dựng kế 
hoạch lồng ghép thông qua khung phân phối chương trình và tiến trình tổ chức dạy tiết 
sinh hoạt lớp hợp lí.
 Trong năm học 2021-2022, tôi đã xây dựng khung phân phối lồng ghép kĩ năng sống 
như sau: 
 STT Các kĩ năng lồng ghép
 1 An toàn khi tham gia giao thông
 2 Phòng dịch covid 19
 3 Làm việc giúp gia đình
 4 Chia sẻ buồn vui cùng bạn bè, người thân
 5 Vệ sinh môi trường
 6 Bày tỏ lòng biết ơn với: thầy cô, người thân, anh hùng dân tộc
 7 Giải quyết vấn đề: tự giác và hợp tác 
 8 Kĩ năng bảo vệ bản thân
 Mỗi kĩ năng trên được lồng ghép, cụ thể vào từng tháng. Ví dụ tháng 9, tôi xây 
dựng mục tiêu rèn kĩ năng An toàn khi tham gia giao thông qua bài “ Kỹ năng sang 
đường”; kĩ năng Làm việc giúp gia đình qua bài “ Cùng gia đình tổ chức Lễ Trung Thu”; 
kĩ năng Phòng dịch covid 19 qua bài “ Thông điệp 5K phòng dịch covid 19”. Mỗi tháng, bản thân tôi xác định mục tiêu rèn kĩ năng gì cho học sinh. Trong kế hoạch 
đặt ra từ đầu năm về 8 kĩ năng lớn đã xây dựng, giáo viên nhận thấy kĩ năng nào đã tốt 
có thể rèn về kĩ năng khác sao cho hài hoà, phát huy phẩm chất, năng lực ở học sinh, 
đảm bảo sau một năm học lớp 3, học sinh được lồng ghép giáo dục đủ các kĩ năng nói 
trên. 
Có nhiều kĩ năng được xây dựng trong kế hoạch dạy học ở các tháng như Phòng dịch 
covid 19. Bởi đây là vấn đề cấp bách, đang ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ, việc học 
tập, sinh hoạt hằng ngày của học sinh cũng như gia đình các em và tất cả mọi người.
2. Các bước tiến hành thực hiện giải pháp 
- Về kế hoạch lồng ghép: Tổ chuyên môn họp và thảo luận về các nội dung lồng ghép 
phù hợp với chương trình và đặc điểm tâm, sinh lí học sinh lớp 3. Sau đó xây dựng phân 
phối chương trình lồng ghép phù hợp. Sau khi xây dựng tổ trưởng rà soát, gửi ban giám 
hiệu duyệt và giáo viên thực hiện hàng tuần theo phân phối đã xây dựng.
 Trong mỗi tháng, tại buổi sinh hoạt chuyên môn tổ, các thành viên thảo luận có 
thể điều chỉnh phân phối chương trình phù hợp thực tế.
 Mỗi năm học, qua các buổi sinh hoạt chuyên môn về tổ chức tiết sinh hoạt tập 
thể của nhà trường hoặc sinh hoạt chuyên môn tổ theo chủ điểm, bản thân tôi rà soát, 
ghi lại những ưu điểm, hạn chế trong phân phối chương trình và điều chỉnh phù hợp về 
phân phối cũng như hình thức tổ chức tiết dạy.
- Thực hiện xây dựng quy trình tổ chức tiết sinh hoạt lớp hợp lí:
+ Bước 1: Sơ kết hoạt động tuần qua (nhận xét, đánh giá, bình chọn ...)
+ Bước 2: Phổ biến công tác (của trường, lớp, đoàn thể...) thảo luận, bàn bạc về kế hoạch 
và biện pháp thực hiện nhiệm vụ tuần tới.
+ Bước 3: Lồng ghép các hoạt động giáo dục kĩ năng sống đã xây dựng vào tiết học.
+ Bước 4: Củng cố dặn dò sau tiết học. Giáo viên xây dựng kế hoạch dạy học cho từng tiết, dự kiến tình huống xảy ra cho 
các hoạt động. 
 Sau mỗi tiết sinh hoạt tập thể của mỗi tuần, tôi đánh giá lại các hoạt động đã tổ 
chức, đánh giá kĩ năng học sinh được hình thành và điều chỉnh. Giáo viên lên kế hoạch 
bồi dưỡng cho kĩ năng tiếp theo. Nếu kĩ năng trong tiết lồng ghép, học sinh chưa thực 
hiện tốt, giáo viên bổ sung thêm trong các hoạt động hằng ngày và các tiết học trong 
tuần tới, tháng tới. 
3. Sản phẩm được tạo ra từ giải pháp 
Sau khi áp dụng giải pháp, giáo viên chủ động lập kế hoạch hợp lí theo các bước của 
phương pháp dạy học mới; Giáo viên chủ động điều chỉnh, sáng tạo trong việc thiết kế 
các hoạt động vào tiết học. 
Học sinh có kĩ năng chủ động trong việc tổ chức cùng nhau đánh giá lại các hoạt động 
của tuần, tạo kĩ năng mạnh dạn chia sẻ, phản biện. 
 Giải pháp 2: Tổ chức các phương pháp dạy học tích cực trong các tiết lồng ghép 
nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh.
1. Nội dung:
Giáo viên chủ động dự kiến kế hoạch tổ chức lồng ghép trong mỗi tiết. Thực hiện tổ 
chức hoạt động lồng ghép linh hoạt qua các phương pháp dạy học tích cực như: Phương 
pháp thảo luận nhóm, phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp đóng vai, phương 
pháp trò chơi, Thông qua các phương pháp tổ chức, học sinh cùng tương tác đa chiều 
với giáo viên để rút ra bài học về kĩ năng, cách giải quyết, quan điểm của mình. Tạo cho 
học sinh kĩ năng đánh giá, thảo luận, phản biện, vấn đáp, Sau đó củng cố kĩ năng sống 
cho bản thân học sinh, cho lớp.
Các nội dung lồng ghép được tổ chức trong bước 3 của tiết sinh hoạt lớp. Chủ yếu cần 
sự chủ động của tất cả học sinh, đảm bảo 100% học sinh tham gia vui vẻ, thoải mái.
2. Các bước tiến hành thực hiện giải pháp: Các bước được tổ chức linh hoạt, sáng tạo dưới sự điều hành của ban cán sự lớp, 
giáo viên chỉ đóng vai trò định hướng, nhận xét sau các hoạt động học sinh tổ chức, 
điều chỉnh nếu học sinh đi lệch dự kiến về các biện pháp tổ chức. Giáo viên cổ động, 
khích lệ tạo hứng thú cho học sinh. Thông thường được tổ chức lồng ghép như sau:
 Hoạt động 1: Khởi động
 Giáo viên nêu chủ đề lồng ghép giáo dục.
 Ví dụ lồng ghép về “Bảo vệ môi trường xung quanh em”, giáo viên nêu vấn đề trực 
tiếp hoặc thông qua video, hình ảnh, tình huống giúp học sinh nhận ra.
 Hoạt động 2: Khám phá
 Học sinh thực hiện giải quyết vấn đề do giáo viên yêu cầu. Ví dụ trong chủ đề Bảo 
vệ môi trường, tình huống đặt ra: Rác thải xung quanh trường em bị các bạn học sinh 
đổ không đúng nơi quy định, gây tình trạng hôi, bề bộn bị người dân phản ánh, em sẽ 
làm gì khắc phục?
 Học sinh có thể xử lí tình huống bằng các cách sau: 
+ Phân nhóm, đóng vai xử lí tình huống. Giáo viên đến từng nhóm, kiểm tra, cùng thảo 
luận với học sinh về cách thức học sinh sẽ giải quyết, các vai được đóng, câu nói, thái 
độ và kết quả của đoạn kịch.
+ Thảo luận đưa ra các đánh giá, cách giải quyết và hiệu quả cách giải quyết bằng 
phương pháp khăn trải bàn. Học sinh ngồi nhóm 4 hoặc 6, mỗi em viết ý kiến vào một 
tờ giấy A4, sau đó thảo luận, lấy các ý đúng nhất làm ý kiến chung.
+ Cộng tác theo tiến trình giải quyết vấn đề: Học sinh phát hiện vấn đề, tự chủ động 
cộng tác với bạn theo cặp hoặc nhóm 3, nhóm 4 trao đổi, nêu quan điểm về vấn đề cần 
giải quyết, rút ra ý đúng. 
+ Phương pháp chọn và xử lí tình huống: Nếu vấn đề giáo viên đưa ra là các tình huống 
khác nhau yêu cầu học sinh tự lựa chọn và xử lý tình huống mình cảm thấy phù hợp thì 
học sinh sẽ lựa chọn tình huống theo ý mình sau đó giáo viên nên nhóm các em có cùng 
tình huống vào một nhóm và xử lý tình huống trong nhóm. Hoặc giáo viên có thể chia nhóm trước, mỗi nhóm chọn các tình huống đưa ra rồi xử lý tình huống theo các cách 
khác nhau. Giáo viên có thể định hướng các cách xử lý ở mỗi nhóm cho phong phú.
 Ví dụ: 
 Nhóm 1 thảo luận viết phiếu về các ý kiến, nhóm 2 vẽ tranh mô tả về cách giải 
quyết, nhóm 3 có thể lập sơ đồ tư duy, nhóm 4 đóng vai, ... Các bạn trong cùng nhóm 
tìm hướng giải quyết theo các cách thức đã được lựa chọn.
+ Phương pháp trò chơi giáo viên có thể đưa ra tình huống là bài tập cần học sinh đưa 
ra các đáp án đúng sai, học sinh được chia nhóm nên tích các đáp án nối tiếp theo các 
nhóm chơi, trong đó sẽ chọn một nhóm làm trọng tài. Phương pháp này sẽ kích thích 
sự đoàn kết của học sinh và hứng thú tham gia. Sau khi học sinh chơi tổ trọng tài cùng 
giáo viên sẽ đi kiểm tra các đáp án. Đồng thời tổ trọng tài cần vấn đáp chia sẻ với bạn 
về các nội dung đã chọn và giải thích lý do vì sao đưa ra đáp án đó. Thông qua phần giải 
thích giúp học sinh hiểu sâu hơn về vấn đề.
+ Sử dụng kỹ thuật tia chớp vào phương pháp tổ chức tiết học trong 1 chủ đề. 
 Giả sử với chủ đề về bài tỏ lòng biết ơn với thầy cô giáo, giáo viên yêu cầu học sinh nối 
tiếp đọc các câu thơ, ca dao tục ngữ hoặc hát lời bài hát nói về thầy cô giáo hoặc mái 
trường. Học sinh sẽ cần vận động thật nhanh để huy động các kiến thức về hiểu biết 
của mình. Thông qua đó học sinh mở rộng thêm vốn từ, tình cảm về thầy cô. Sau khi tổ 
chức xong, giáo viên cùng học sinh chia sẻ về ý nghĩa của các câu thơ lời hát mà học sinh 
đã nêu. Qua đó học sinh vừa rèn kỹ năng phản ứng nhanh, vừa tích lũy thêm cho mình 
về kiến thức vốn từ, đồng thời bày tỏ lòng biết ơn với thầy cô đã dạy dỗ mình. 
Nếu học sinh trong lớp đã có thói quen về kỹ năng tổ chức tốt, mạnh dạn hơn, tôi có 
thể cùng học sinh tổ chức về vấn đề được nêu ra theo cách tọa đàm. Trong đó một 
nhóm học sinh đóng vai trò chia sẻ hỏi đáp tọa đàm, các bạn còn lại ngồi vòng quanh 
lắng nghe đồng thời góp ý khi được yêu cầu. Đây cũng là một phương pháp rèn kỹ năng 
lắng nghe của học sinh, sự chủ động của các bạn trong nhóm tọa đàm. Nhóm tọa đàm 
sẽ được thay đổi trong các tiết khác nhau. Hoạt động 3: Luyện tập
Với tất cả các phương pháp trên, sau khi đã được tổ chức thảo luận, học sinh sẽ chia sẻ 
trước lớp, đảm bảo sự tham gia chủ động của học sinh. Giáo viên đóng vai trò là tổ chức 
góp ý, các nhóm báo cáo sẽ chủ động mời các nhóm khác chia sẻ, nhận xét bình luận về 
cách thức giải quyết vấn đề của nhóm mình. Sau khi tất cả các nhóm nêu ý kiến chia sẻ, 
thảo luận về vấn đề, giáo viên sẽ cùng kết luận lại để đưa ra ý kiến hợp lý, củng cố về kỹ 
năng sống cho học sinh. Đánh giá học sinh chủ yếu mang tính chất động viên khích lệ 
giúp học sinh thêm phần tự tin, tích cực tham gia hơn ở những tiết học tiếp theo. 
Hoạt động 4: Vận dụng
Thông qua phần kiến thức đã được chia sẻ trong các bước trên, giáo viên giúp học sinh 
liên hệ vào thực tiễn, vận dụng cách giải quyết, nhận ra bài học đối với bản thân, có kỹ 
năng vận dụng vào cuộc sống.
 Ví dụ: 
Với chủ đề: Bảo vệ môi trường, học sinh biết cách giải quyết với các tình huống đã xảy 
ra, đồng thời bạn thân biết giữ gìn vệ sinh môi trường xung quanh mình, góp ý tuyên 
truyền với bạn và những người xung quanh cần có trách nhiệm ý thức về việc bảo vệ 
môi trường giúp ích cho mình và cho mọi người cũng như cho cuộc sống. 
Với chủ đề tôn sư trọng đạo, học sinh có thêm nhiều hiểu biết về các bài học về lòng 
biết ơn đối với thầy cô, biết bày tỏ lòng biết ơn, biết dùng những hành động để thể hiện 
lòng biết ơn, ngoan ngoãn lễ phép, cố gắng phấn đấu trong học tập, trong việc thực 
hiện nền nếp, phấn đấu trở thành con ngoan trò giỏi...
3. Kết quả khi thực hiện giải pháp:
 Sau khi thực hiện các bước và các phương pháp trong việc lồng ghép kĩ năng sống 
vào tiết sinh hoạt tập thể, học sinh lớp tôi chủ nhiệm trở nên tích cực, hào hứng trong 
các tiết học sinh hoạt nói riêng và các tiết học khác nói chung. Các em cực kì hồ hởi, 
mạnh dạn tự nhiên khi tham gia hợp tác cùng các bạn. Nhiều em ngại bày tỏ quan điểm 
đã trở nên mạnh dạn hơn, không còn giấu mình nữa. Sau đây là những hình ảnh về một vài chủ điểm mà tôi đã tổ chức cho học sinh.
 Học sinh hào hứng nghe video nêu vấn đề 
 Học sinh sắm vai xử lí tình huống
Học sinh tích cực tham gia thảo luận nhóm
 Học sinh chia sẻ, phản biện
 Học sinh tích cực tham gia trò chơi
 Giải pháp 3: Phối hợp với phụ huynh học sinh cùng giáo dục kĩ năng sống khi ở nhà.
1. Nội dung:
Việc giáo dục học sinh cần có cả hai chiều cả giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh 
thì hiệu quả sẽ cao.
Giáo viên chủ nhiệm lập nhóm Zalo của lớp chủ nhiệm để liên lạc thường xuyên với phụ 
huynh học sinh hoặc trao đổi qua điện thoại. Giáo viên có thể phối hợp với phụ huynh 
cùng giáo dục học sinh thông qua các nhiệm vụ được giao về nhà làm. 
2. Các bước tiến hành. 
- Giáo viên chủ động phối hợp với phụ huynh thông qua các kênh thông tin chung: zalo, 
điện thoại, gmail, facebook, chia sẻ nhiệm vụ cùng phối hợp.
- Phụ huynh gửi kết quả, phản ánh, đánh giá về chất lượng các kĩ năng thực hiện ở nhà.
- Giáo viên cùng học sinh thảo luận về các sản phẩm được bố mẹ các em gửi, cùng học 
sinh đánh giá theo các bước: tự đánh giá, bạn đánh giá - chia sẻ, giáo viên đánh giá. Ví 
dụ chủ đề giúp đỡ người thân các công việc ở nhà, sau khi học sinh hiểu và nhận thức 
được các công việc phù hợp với sức của mình, giáo viên yêu cầu học sinh về thực hành 
các việc em làm, nhờ bố mẹ quay Video, chụp ảnh sau đó chia sẻ với các bạn vào các 
giờ học sau. 
 Học sinh làm những công việc vừa sức mình giúp đỡ gia đình Hoặc chủ đề Phòng dịch covid 19, giáo viên tuyên truyền tới phụ huynh học sinh bằng 
các văn bản chỉ đạo của các cấp hướng dẫn các biện pháp phòng dịch, đánh giá đối 
tượng ảnh hưởng covid theo từng giai đoạn, cùng phối hợp với phụ huynh hướng dẫn 
học sinh cách vệ sinh, khử khuẩn, thực hiện tốt “5K” ở nhà cũng như các nơi công cộng. 
Thông qua việc phối hợp không những giáo dục học sinh mà còn lan toả tới phụ huynh 
và những người xung quanh. Phụ huynh chụp, quay video để gửi giáo viên làm minh 
chứng cho việc thực hiện kĩ năng phòng dịch của con ở nhà.
 Học sinh biết hướng dẫn em rửa tay theo 6 bước
3. Kết quả khi thực hiện giải pháp:
 Phụ huynh đồng tình ủng hộ, tín nhiệm với GV và tạo điều kiện cùng rèn luyện cho 
Hs tốt hơn. Học sinh mạnh dạn, có kĩ năng xử lí các tình huống trong cuộc sống. Học 
sinh biết giúp đỡ gia đình, thể hiện tình cảm, chia sẻ cùng người thân, tự giác hoàn 
thành công việc.
 Kết quả khi thực hiện các giải pháp:
Sau khi áp dụng các giải pháp tôi thấy kĩ năng của học sinh tiến bộ rõ rệt. Các em xử lí 
linh hoạt các tình huống, vận dụng linh hoạt các kĩ năng vào cuộc sống, được thể hiện 
qua bảng số liệu sau:
 Bảng số liệu trước khi áp dụng giải pháp
 Biết xử lí một số Xử lí linh hoạt 
 Xử lí được các 
 Chưa có kĩ năng, tình huống đơn các tình huống, 
 tình huống, 
 Sĩ luống cuống, giản vận dụng
 Thời gian biết vận dụng 
 số rụt rè, chưa biết bước đầu có kĩ linh hoạt các kĩ 
 vào
 vận dụng năng, chưa vận năng vào cuộc 
 cuộc sống
 dụng tốt sống
 SL % SL % SL % SL % Đầu năm 
 học 30 10 33,3 11 36,7 5 16,7 4 13,3
 2020 - 2021
 Kết quả sau khi áp dụng các giải pháp vào lớp chủ nhiệm năm học 2020 - 2021
 Biết xử lí một số Xử lí linh hoạt 
 Chưa có kĩ Xử lí được các 
 tình huống đơn các tình huống, 
 năng, tình huống, 
 Sĩ giản vận dụng
 Thời gian luống cuống, biết vận dụng 
 số bước đầu có kĩ linh hoạt các kĩ 
 rụt rè, chưa vào
 năng, chưa vận năng vào cuộc 
 biết vận dụng cuộc sống
 dụng tốt sống
 SL % SL % SL % SL %
 Cuối năm học 
 2020 - 2021 30 0 0 2 6,7 7 23,3 21 70
 Sau khi áp dụng giải pháp “Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 3 thông qua tiết 
sinh hoạt tập thể” tôi đã thu được kết quả khả quan. Trong buổi sinh hoạt chuyên môn 
tổ tôi đã mạnh dạn trình bày các giải pháp “Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 3 
thông qua tiết sinh hoạt tập thể” trước tổ đã được các đồng nghiệp đánh giá cao và vận 
dụng vào năm học 2021 – 2022. Giữa học kì 2 tôi tiến hành khảo sát học sinh trong khối 
3 đã thu được kết quả như sau: Biết xử lí một số Xử lí linh hoạt 
 Chưa có kĩ Xử lí được các 
 tình huống đơn các tình huống, 
 năng, tình huống, 
 Sĩ giản vận dụng
 Thời gian luống cuống, biết vận dụng 
 số bước đầu có kĩ linh hoạt các kĩ 
 rụt rè, chưa vào
 năng, chưa vận năng vào cuộc 
 biết vận dụng cuộc sống
 dụng tốt sống
 SL % SL % SL % SL %
 Giữa kì 2 năm 
 học 97 0 0 10 10,3 20 20,6 67 69,1
 2021 - 2022
Qua bảng số liệu nhận thấy, số học sinh chưa có kĩ năng,
 luống cuống, rụt rè, chưa biết vận dụng đã không còn từ năm học 2020 - 2021. Số lượng 
học sinh xử lí tình huống và vận dụng chưa tốt đã giảm nhiều. Học sinh xử lí linh hoạt, 
vận dụng kĩ năng vào cuộc sống tăng nhanh, chiếm 70% của lớp và 69,1% của cả khối. 
Đặc biệt nhiều em linh hoạt, sáng tạo, được tham gia vào các hoạt động liên đội, các 
câu lạc bộ của nhà trường.
7.2. Phạm vi áp dụng giải pháp
Giải pháp đã được ứng dụng vào lớp chủ nhiệm của tôi năm học 2020 – 2021 và vận 
dụng trong khối 3 của trường Tiểu học Đồng Kỳ năm học 2021 - 2022.
7.3. Lợi ích thu được từ giải pháp:
 Đối với học sinh:
Thông qua các biện pháp trên học sinh lớp tôi đã trở nên tích cực hứng thú trong các 
tiết sinh hoạt tập thể. Hầu hết các học sinh đã tự giác rất cao, có tinh thần ham học, 
chủ động cộng tác hợp tác chia sẻ sôi nổi trong các giờ học. Học sinh biết hỗ trợ đoàn kết giúp đỡ nhau trong quá trình học tập, không ngại ngần khi mình cảm thấy khó khăn, 
hoặc chủ động giúp đỡ bạn khi thấy bạn chưa hiểu bài. Các kỹ năng ở phần mục tiêu 
đầu năm tôi đặt ra, theo lộ trình đã đạt được hiệu quả rất tốt. Bản thân học sinh đã có 
kỹ năng vận dụng vào trong học tập, trong cuộc sống để chấp hành tốt nội quy của lớp 
trường, tích cực tham gia các hoạt động học tập, ngoại khóa và giúp đỡ gia đình các 
công việc phù hợp với sức của mình. Lớp chủ nhiệm của tôi đã được tuyên dương về 
các phong trào của đội của nhà trường. Đây cũng là một kết quả mong đợi trong công 
tác chủ nhiệm mà tôi đặt ra. 
Đối với giáo viên:
 Có thêm những giải pháp để giúp học sinh có các kĩ năng sống nhằm nâng cao chất 
lượng giáo dục cho nhà trường.
 Xây dựng lòng tin và sự tín nhiệm của phụ huynh với cô giáo và nhà trường.
 Trên đây là một số giải pháp để “Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 3 thông 
qua tiết sinh hoạt tập thể” tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các cấp lãnh đạo 
và các bạn đồng nghiệp.
 Tôi cam đoan những điều trình bày trên đây là đúng sự thật và không sao chép hoặc 
vi phạm bản quyền.
 Tôi xin chân thành cảm ơn!
 Đồng Kỳ, ngày 07 tháng 3 năm 2022
 XÁC NHẬN CỦA BGH NGƯỜI VIẾT
 NHÀ TRƯỜNG (Ký và ghi rõ họ tên)
 Bùi Thị Hà Thanh

File đính kèm:

  • docxgiai_phap_giao_duc_ki_nang_song_cho_hoc_sinh_lop_3_thong_qua.docx
Bài giảng liên quan