Một số biện pháp phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 2

pdf20 trang | Chia sẻ: Chan Chan | Ngày: 10/02/2026 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số biện pháp phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 2, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
 1 
 MỤC LỤC 
I. PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................... 2 
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 2 
2. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 3 
3. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 3 
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .................................................................... 3 
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 3 
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ........................................................................ 4 
1. Cơ sở lý luận ................................................................................................. 4 
2. Cơ sở thực tiễn .............................................................................................. 5 
3. Các biện pháp ................................................................................................ 7 
3.1. Biện pháp 1: Tạo cơ hội cho học sinh bộc lộ và phát triển phẩm chất 
nhân ái ............................................................................................................... 7 
3.2. Biện pháp 2:Phát triển lòng nhân ái thông qua các hoạt động trải nghiệm
 ........................................................................................................................... 9 
3.3. Biện pháp 3: Giáo dục “Tôn trọng sự khác biệt” cho học sinh .............. 11 
3.4. Biện pháp 4: Phối hợp với cha mẹ học sinh để giáo dục lòng nhân ái cho 
các em .............................................................................................................. 12 
III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG .................................................................... 15 
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................. 17 
Tài liệu tham khảo ........................................................................................... 20 
 2 
 I. PHẦN MỞ ĐẦU 
 1. Lý do chọn đề tài 
 Nhân dân ta từ xưa đến nay luôn có tấm lòng nhân ái, đó là truyền 
thống quý báu đáng quý giúp gắn kết trái tim của mọi người với nhau, từ đó 
tạo ra sức mạnh toàn dân đại đoàn kết. Tình cảm đó giúp con người vượt qua 
khó khăn và đi đến thành công. 
 Đặc biệt với nền giáo dục của chúng ta hiện nay, việc thực hiện chương 
trình GDPT 2018 không chỉ chú trọng đến dạy kiến thức cho học sinh mà đặc 
biệt chú trọng phẩm chất, năng lực cho học sinh. Hình thành và phát triển 
phẩm chất cho học sinh tiểu học là một việc làm vô cùng quan trọng nhất là 
với lứa tuổi nhỏ, lứa tuổi đang "như búp trên cành". Ngay từ ban đầu việc 
hình thành và phát triển cho các em có những phẩm chất, đặc biệt là phẩm 
chất “nhân ái” là một việc làm vô cùng thiết thực, nó giúp các em hình thành 
nên thói quen có hành vi đạo đức tốt mãi mãi về sau. 
 Ngày nay cùng với sự phát triển của nền công nghiệp theo hướng hiện 
đại hóa, sự phát triển công nghệ 4.0 bên cạnh những thành tựu đạt được thì 
những giá trị truyền thống, giá trị đạo đức, lòng nhân ái cũng bị biến tướng, 
lệch lạc trong một phần giới trẻ. Vì vậy chúng ta phải giáo dục học sinh bằng 
cách này hay cách khác để các em thấy được những giá trị văn hóa truyền 
thống tốt đẹp của ông cha ta trong đó có lòng nhân ái, đó chính là một phẩm 
chất vô cùng đẹp của con người nên chúng ta cần phải cố gắng phát huy và áp 
dụng vào cuộc sống xung quanh. 
 Từ những lí do trên, là giáo viên chủ nhiệm trực tiếp giảng lớp 2 năm 
học 2022-2023, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu và áp dụng: Một số biện pháp 
phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 2. 
 3 
 2. Mục đích nghiên cứu 
 Giúp học sinh có những nhận thức đúng đắn về phẩm chất nhân ái. Từ 
đó các em biết sống nhân ái, biết điều chỉnh hành vi của mình trong những 
tình huống khác nhau của cuộc sống. 
 Học sinh biết yêu quý mọi người,tôn trọng sự khác biệt của những 
người xung quanh, không phân biệt đối xử, sẵn sàng tha thứ, tôn trọng về văn 
hóa, tôn trọng cộng đồng. 
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 
 Nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về việc phát triển phẩm chất 
nhân ái cho học sinh lớp 2. 
 Đề xuất áp dụng một số biện pháp nhằm phát triển phẩm chất nhân ái 
cho học sinh lớp 2. 
 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 
 Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp phát triển phẩm chất nhân ái 
cho học sinh lớp 2. 
 Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 2 được phân công chủ nhiệm 
 5. Phương pháp nghiên cứu 
 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:Tìm hiểu sách giáo khoa, sách giáo 
viên, các công văn, thông tư, quyết định có liên quan đến biện pháp. 
 Phương pháp nghiên cứu thực tế: Dự giờ, trao đổi ý kiến với đồng 
nghiệp về nội dung giáo dục, tổng kết, rút kinh nghiệm trong quá trình dạy 
học.Lập kế hoạch dạy học, kế hoạch bài dạy. 
 Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu những vấn đề lí luận và 
thực tiễn liên quan đến biện pháp. 
 Phương pháp thực nghiệm: Áp dụng những biện pháp tìm được vào 
việc giảng dạy cho học sinh của lớp. 
 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm đúc rút được 
trong quá trình giáo dục học sinh. 
 4 
 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
 1. Cơ sở lý luận 
 Theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 - Chương trình tổng thể chính 
thức được Bộ giáo dục và Đào tạo công bố vào ngày 27 tháng 12 năm 2018, 
phẩm chất “nhân ái” là một trong năm phẩm chất cốt lõi sau: Yêu nước, nhân 
ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. 
 Đối với cấp tiểu học phẩm chất nhân ái bao hàm các biểu hiện sau đây: 
Biểu hiện Yêu cầu cần đạt 
Yêu quý - Yêu thương, quan tâm, chăm sóc người thân trong gia đình. 
mọi người - Yêu quý bạn bè, thầy cô; quan tâm, động viên, khích lệ bạn bè 
 - Tôn trọng người lớn tuổi; giúp đỡ người già, ốm yếu, người 
 khuyết tật; nhường nhịn và giúp đỡ em nhỏ. 
 - Biết chia sẻ với những bạn có hoàn cảnh khó khăn, các bạn ở 
 vùng sâu, vùng xa, người khuyết tật và đồng bào bị ảnh hưởng 
 của thiên tai. 
Tôn trọng - Tôn trọng sự khác biệt của bạn bè trong lớp về cách ăn mặc, 
sự khác tính nết và hoàn cảnh gia đình. 
biệt giữa - Không phân biệt đối xử, chia rẽ các bạn. 
mọi người - Sẵn sàng tha thứ cho những hành vi có lỗi của bạn 
 * Định nghĩa “nhân ái” 
 Từ những khái quát rút ra được qua nghiên cứu các tài liệu liên quan 
tham khảo được, có thể đưa ra cách hiểu: “Phẩm chất nhân ái là một giá trị 
nhân cách phổ quát, hướng cá nhân tin tưởng vào bản chất lương thiện của 
con người, luôn suy nghĩ làm những điều tốt, tin rằng con người có thể được 
giáo dục để trở nên tốt. Lòng nhân ái của một người được biểu hiện ra trong 
mối quan hệ với những người xung quanh ở sự yêu thương, chia sẻ; đồng 
cảm, nhân từ; vị tha, khoan dung; đoàn kết, trách nhiệm; biết ơn, tôn trọng”. 
 5 
 2. Cơ sở thực tiễn 
 * Thực trạng 
 Trong những năm qua, việc dạy học theo định hướng phát triển phẩm 
chất, năng lực cho học sinh đã được Ban giám hiệu nhà trường đặc biệt quan 
tâm. Giáo viên được tạo điều kiện thuận lợi trong việc phát triển năng lực 
chuyên môn, sáng tạo, đổi mới trong việcáp dụng các phương pháp dạy học, 
các hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp với đối tượng học sinh, phù 
hợp với đặc thù môn học và đặc biệt luôn bám sát đúng chương trình và mục 
tiêu bài học.Bên cạnh đó, nhà trường có đầy đủcơ sở vật chất, trang thiết bị 
dạy học, mạng Internet nhằm phục vụ tốt nhất cho hoạt động dạy và học. Học 
sinh có nhiều cơ hội tham gia các hoạt động trải nghiệm, hoạt động tập thể 
hoặc tương tác trên môi trường mạng Internet,... Nhờ đó mà năng lực, phẩm 
chất của các em cũng được phát triển. 
 Tuy nhiên nhiều học sinh được bố mẹ cho sử dụng điện thoại, ti vi, 
Các em xem một số kênh có nội dung giải trí thiếu lành mạnh, không phù hợp 
với lứa tuổi, không có tác dụng về giáo dục đạo đức nhất là giáo dục lòng 
nhân ái. Vì thế khi đến lớp tham gia học tập và rèn luyện, nếu giáo viên chỉ 
giáo dục theo cách thông thường thì sẽ không hiệu quả. Từ đó, các em dễ 
nhàm chán và hay lãng quên, dần dần dẫn đến sự vô cảm, thờ ơ, 
 *Kết quả của thực trạng 
 Năm học 2022 - 2023, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 2. Lớp có 30 
học sinh, trong đó có 12 học sinh nữ và 18 học sinh nam. Vì lớp đông học 
sinh namhơn nên các em hiếu động, nghịch ngợm và ít chăm học hơn. Hầu 
hết các em đều là con nhà nông, cuộc sống còn nhiều khó khăn. 
 Ngay trong tuần lễ đầu nhận lớp, tôi bắt tay vào việc tìm hiểu, quan sát 
thái độ, cử chỉ cũng như hành vi đạo đức của các em với bạn trong lớp. Chỉ 
mới một tuần mà tôi đã nhận thấy các em đã bộc lộ những hành vi đạo đức 
chưa tốt. Tôi tiến hành điều tra mức độ học sinh có hành động nhân ái với bạn 
trong lớp và thu được kết quả sau: 
 6 
 Số HS có hành 
 Số HS có hành động động nhân ái với 
 Số HS chưa có 
 TSHS nhân ái với bạn bạn trong lớp 
 hành động nhân ái 
 trong lớp nhưng chưa thường 
 xuyên 
 SL % SL % SL % 
 30 
 10 33,33 15 50 5 16,67 
 Căn cứ vào bảng trên kết hợp với trao đổi với giáo viên bộ môn và phụ 
huynh học sinhtôi thấy: 
 Số học sinh có hành động nhân ái với bạn trong lớp còn ở mức khiêm 
tốn. Các embiết vâng lời ông bà, bố mẹ, tích cực học và làm bài, luôn yêu 
thương, đoàn kết với bạn bè. 
 Số học sinh có hành động nhân ái với bạn trong lớp nhưng chưa thường 
xuyên còn chiếm tỉ lệ cao, được thể hiện ở chỗ các em biết tôn trọng người 
lớn tuổi, biết tham gia chơi cùng bạn nhưng đôi lúc còn hay nghịch, hay trêu 
đùa bạn quá mức, lấy việc trêu đùa bạn như một trò chơi rất vui. 
 Số học sinh chưa có hành động nhân ái còn chiếm tỉ lệ cao. Có em nhút 
nhát, hay chơi một mình, ít trao đổi với bạn, một số em phân biệt đối xử, chia 
rẽ bạn bè. Các em được bố mẹ nuông chiều quá mức, có em còn thiếu sự quan 
tâm sát sao của bố mẹ. 
 *Nguyên nhân 
 Do đặc thù tâm lý lứa tuổi tiểu học: các em chưa có ý thức tự học cao, 
chưa điều khiển được hành vi của mình theo hướng tích cực. 
 Một số em bắt chước theo cách ứng xử của cha mẹ, của các thanh thiếu 
niên hư hỏng gần nhà. 
 Một số em là con một, hoàn cảnh gia đình “khá giả” nên được bố 
mẹnuông chiều, luôn cho mình là trung tâm và ít quan tâm tới người khác. 
 Một số em còn thiếu sự quan tâm đúng mức của gia đình vì phần lớn 
các em có cha mẹ đi làm ăn xa, các em ở với ông bà hoặc cha mẹ làm công 
nhân tăng ca nhiều nên hầu như không quan tâm để ý đến con cái và không 
quản lí được giờ giấc đến trường và sinh hoạt của các em. 
 7 
 Ngoài ra, còn nguyên nhân chủ quan nữa là do chưa có một giải pháp kết 
hợp giáo dục tốt cho các em ở trường, ở nhà và ngoài xã hội. 
 Xuất phát từ thực trạng trên tôi mạnh dạn đề xuất áp dụng một số biện 
pháp sau: 
 3. Các biện pháp 
 3.1. Biện pháp 1: Tạo cơ hội cho học sinh bộc lộ và phát triển phẩm 
chất nhân ái 
 * Giáo dục học sinh trong tuần học đầu năm 
 Tôi thực hiện giải pháp này vào trong tiết sinh hoạt trong tuần đầu 
năm học (tuần 0) theo kế hoạch nhà trường. 
 Cách thực hiện: 
 Tiết 1: Tiết đầu ấn tượng 
 Hoạt động 1: Kể chuyện “Chuyện bốn mùa” 
 Sau khi câu chuyện kết thúc giáo viên yêu cầu học sinh hãy cho biết 
những cảm nhận của bản thân các em qua câu chuyện vừa rồi. 
 Bài học được rút ra qua hoạt động này: Mỗi chúng ta đều có những 
vẻ đẹp riêng, đều có những đức tính tốt không ai giống ai mỗi người một 
màu sắc làm cho cuộc sống đầy màu sắc, ai cũng mong muốn được mang lại 
những điều tốt đẹp cho đời, cho xã hội. Vì vậy chúng ta không có phân biệt 
đối xử mà phải đoàn kết, yêu thương nhau tạo nên một tập thể vững mạnh. 
 Hoạt động 2: Hướng dẫn học sinh làm THẺ giá trị bản thân 
 Mỗi học sinh sẽ được phát 1 thẻ hình chữ nhật như một lá bài do giáo 
viên chuẩn bị, có màu sắc khác nhau, sau đó cho học sinh trang trí tấm thẻ 
của mình. Trong thẻ có các thông tin: Họ và tên, ngày tháng năm sinh, 
nickname, sở thích và điều mà bản thân học sinh muốn hướng tới, nỗ lực 
phấn đấu để có được nó. 
 Hoạt động 3: Trò chơi “Kết bạn” 
 Sau khi học sinh làm thẻ giá trị, giáo viên tổ chức cho học sinh tham 
gia trò chơi “Kết bạn” để cho học sinh trong lớp tìm hiểu nhau, chia sẻ các 
thông tin trên tấm thẻ của mình với các bạn. 
 8 
 Hoạt động 4: Tổ đoàn kết 
 GV chia tổ một cách ngẫu nhiên, các bạn có màu sắc giống nhau thì 
về chung một tổ. Tiết học mang lại nhiều ấn tượng giữa học sinh và giáo 
viên, ấn tượng với các bạn trong lớp và cảm thấy hứng thú cho một năm học 
mới bắt đầu. 
 Tiết 2: Thảo luận đề ra “Kỷ luật yêu thương” 
 Sau khi đã được chia tổ ở tiết trước, các học sinh trong tổ sẽ được 
ngồi với nhau. Mỗi tổ sẽ thảo luận nhóm và trình bày trang trí vào bảng phụ 
hoặc giấy A0, đề ra những nội quy lớp mà các em sẽ cùng nhau thực hiện. 
Sau đó giáo viên bốc thăm ngẫu nhiên mỗi tổ một thành viên lên bảng trình 
bày. Sau khi trình bày của các nhóm, giáo viên cùng với học sinh thống nhất 
những nội quy chung của cả lớp dựa trên các nội quy chung của các tổ. Học 
sinh tự đưa ra những nội quy thì sẽ có trách nhiệm hơn, ko ép buộc học sinh 
thực hiện những nội quy mà học sinh sẽ có ý thức tự giác thực hiện những 
nội quy mình tự đưa ra. 
 * Lồng ghépcác câu chuyện, video,âm nhạc,... để giáo dục học sinh 
 Ở lứa tuổi lớp 2, học sinh rất thích được nghe kể chuyện, nhất là những 
câu chuyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết, những câu chuyện mang yếu 
tố thần kì như ông Bụt, cô Tiên, luôn là đề tài nóng hổi để gây sự chú ý từ 
các em. Bên cạnh đó, video hoặc phim hoạt hình là thể loại các em yêu thích 
nhất, nó có tác động trực tiếp đến cảm nhận và các hoạt động bắt chước 
rất nhanh. 
 Nắm bắt được yếu tố tâm lý này mà tôi đã lồng ghép nội dung trên vào 
trong các buổi học để giáo dục các em. Để tạo cơ hội cho học sinh bộc lộ và 
phát triển phẩm chất nhân ái, tôi đã thực hiện theo3 bước sau: 
 Bước 1: Lựa chọn những câu chuyện, video, âm nhạc,... có tính giáo 
dục lòng nhân ái. 
 Bước 2: Bố trí thời gian hợp lý để lồng ghép câu chuyện, video, âm 
nhạc,... đảm bảo tính khoa học và tính sư phạm. 
 9 
 Bước 3: Kể chuyện, xem video và trao đổi. 
 Ví dụ: Ở tiết Hoạt động trải nghiệm tuần 13 bài “Giúp đỡ người gặp 
hoàn cảnh khó khăn ” tôi dành 15 phút cho các em xem video về hoạt động 
ủng hộ đồng bào lũ lụt ở miền Trung. Sau khi các em xem xong, tôi cùng trao 
đổi với các em về ý nghĩa của hành động quyên góp trên từ các bạn học sinh. 
Tôi đưa ra một số câu hỏi để dẫn các em vào tìm hiểu ý nghĩa của việc làm 
trên, từ đó xây dựng trong mỗi cá nhân các em lòng nhân ái, biết chia sẻ khó 
khăn với những người, những gia đình gặp hoạn nạn, hiểu về giá trị của 
phong trào: “Lá lành đùm lá rách”, 
 Bên cạnh đó, tôi cũng luôntạo cơ hội cho học sinh được phát huysở 
trường của mình như thảo luận nhóm sắm vai kể lại câu chuyện hoặc xử lý 
tình huống,.. có tính giáo dục lòng nhân ái. Học sinh vô cùng hào hứng và 
thích thú khi tham gia những hoạt động này. Đây cũng là cơ hội để các embộc 
lộ và phát triển phẩm chất nhân ái. Đồng thời các năng lực, phẩm chất khác 
cũng được hình thành và phát triển theo. 
 3.2. Biện pháp 2:Phát triển lòng nhân ái thông qua các hoạt động 
trải nghiệm 
 Các năng lực, phẩm chất học sinh không chỉ được hình thành trong quá 
trình học tập và rèn luyện mà nó còn được hình thành nhiều qua các hoạt 
động trải nghiệm trong và ngoài nhà trường. Hoạt động trải nghiệm có thể tổ 
chức quy mô lớn nhỏ tùy vào thời gian, điều kiện của nhà trường, của từng 
lớp, từng đối tượng học sinh. Ngoài các hoạt động trải nghiệm theo quy mô 
lớn như tổ chức theo trường, theo khối, tôi thấy các trải nghiệm qui mô nhỏ 
 (theo từng lớp riêng) cũng rất cần thiết và mang lại hiệu quả cao. 
 Tôi đã lên kế hoạch, cùng học sinh trang trí “Góc chia sẻ yêu thương” 
tại lớp học. Tại góc này, học sinh chia sẻ tâm tư, tình cảm với thầy cô và các 
bạn có thể qua các bài viết hoặc lá thư, tấm thiệp, món quà,... do chính các em 
làm. Ngoài ra học sinh còn được chia sẻ với nhau đồ dùng học tập. Các em vô 
cùng hào hứng, phấn khởi khi tham gia hoạt động này.Hoạt động không chỉ 
 10 
giáo dục các em về sự chia sẻ, giúp đỡ người khác mà còn giúp lớp học sẽ trở 
thành một môi trường học tập thân thiện, hạnh phúc, mỗi ngày các em đến 
trường là một ngày vui. Đây cũng là một “luồng gió mới” giúp các em hăng 
say, nỗ lực hơn trong học tập để gặt hái được nhiều thành công. 
 Ngoài ra, tôi còn khuyến khích học sinh tham gia tích cực các phong 
trào nhân ái khác do trường, Đội phát động như: Nuôi heo đất, Xuân yêu 
thương, Kế hoạch nhỏ, Vũ khúc 1000 đồng quyên góp ủng hộ học sinh có 
hoàn cảnh khó khăn, Ủng hộ đồng bào miền Trung,...Việc tổ chức cho học 
sinh tham gia các hoạt động trải nghiệm tạo cho trẻ niềm say mê tìm hiểu, 
thích khám phá, biết cách lĩnh hội những kiến thức mới, cách hình thành kỹ 
năng mới. Hoạt động còn giúp học sinh thấu hiểu ý nghĩa của sự lao động, 
sáng tạo khi làm ra một sản phẩm nào đó.Đồng thời giáo dục học sinh lòng 
nhân ái, các em biết chia sẻ với những hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống. 
 Ảnh 1: Học sinh tích cực tham gia phong trào Kế hoạch nhỏ 
 11 
 Ảnh 2: Học sinh tham gia chương trình Vũ khúc 1000 đồng 
 3.3. Biện pháp 3:Giáo dục “Tôn trọng sự khác biệt” cho học sinh 
 Đây là một nội dung mới về biểu hiện phẩm chất. nhân ái trong 
chương trình giáo dục phổ thông mới. Bản chất của cuộc sống, của thế giới 
là sự đa dạng, phong phú, nhiều màu sắc. Mỗi người là một cá thể riêng biệt, 
độc đáo không trộn lẫn, không lặp lại. Ngay cả những cặp anh chị em sinh 
đôi, có cùng cha mẹ, cùng hưởng thụ một cách nuôi dưỡng, một nền giáo 
dục gia đình, cũng không hoàn toàn giống nhau, thậm chí sự khác biệt cũng 
rất rõ nét. Vậy làm sao có thể bắt người khác giống mình về sở thích, khiếu 
thẩm mĩ, quan điểm sống và nhiều thứ khác nữa? 
 Việc vận dụng trò chơi để tác động vào rèn luyện và phát triển phẩm 
chất nhân ái cho các em là một bước đi đúng hướng mà tôi đã nghiên cứuvà 
lựa chọn. Tôi quyết định thiết kế một số trò chơi lồng ghép vào các bài học có 
yếu tố nhân ái để từng bước giúp các em thấm nhuần giá trị đạo đức về tình 
người, trong đó có giáo dục các em về “Tôn trọng sự khác biệt”. 
 Ví dụ: Trò chơi “Ở ngoài kia là rừng rậm” 
 Bước 1: Giáo viên in sẵn hình ảnh 4 con vật: sư tử, đại bàng, rùa, thỏ 
 12 
 và dán 4 góc (có thể đổi con khác cũng được). Yêu cầu học sinh chọn 1 con 
mình muốn trở thành và đứng vào góc có dán hình con đó. Giáo viên phát tờ 
giấy ở nửa trên có in sẵn câu "Tại sao mình muốn thành sư tử?", nửa dưới in 
câu "Tại sao mình không muốn thành đại bàng, rùa, thỏ?". Tương tự cho 3 
tờ giấy còn lại. Các nhóm liệt kê các lý do muốn và không muốn vào giấy. 
 Bước 2: Mỗi nhóm cử đại diện lên đọc to lý do vì sao nhóm mình 
thích vật đó (ví dụ thích sư tử vì nó oai phong, dũng mãnh), cử 1 em tình 
nguyện viên đọc 3 tờ giấy còn lại nêu lý do không thích con sư tử (vì nó 
hung hăng, tạo cảm giác sợ hãi...). Tương tự như thế cho 3 con vật còn lại. 
 Bước 3: Hỏi học sinh học được bài học gì qua trò chơi vừa rồi. Các 
em sẽ trả lời được: Con vật mà em thích có khi bạn ghét, ít nhất có 4 cách 
nhìn khác nhau về 1 con vật cả tốt lẫn xấu. 
 Giáo viên sẽ chốt bài học: Có nhiều cách để nhìn nhận một ai đó, điều 
mình không thích ở người này thì có khi ai đó lại thấy điều đó là tốt, giả sử 
mỗi bạn trong lớp mình là một con vật thì sẽ có gần mấy chục cách nhìn 
khác nhau về ai đó, mỗi người đều có ưu và khuyết điểm riêng, nên nhìn 
thấy điều tốt của bạn thì mới gần gũi nhau, lớp mới thành một tập thể đoàn 
kết được. 
 Bước 4: Giáo viên chuẩn bị sẵn các thẻ nhỏ, mỗi thẻ ghi tên 1 bạn và 
phát thẻ ngẫu nhiên trong lớp. Ai nhận được thẻ có tên bạn viết trong thẻ thì 
hãy viết vào mặt sau 1 điều tốt mà mình nhìn thấy ở bạn. Sau đó chạy quanh 
lớp tìm bạn và trao thẻ, bắt tay nhau nói "mình thích điều đó ở bạn". Từ đó 
các bạn sẽ hiểu và yêu thương nhau nhiều hơn. 
 3.4. Biện pháp 4: Phối hợp với cha mẹ học sinh để giáo dục lòng 
nhân ái cho các em 
 *Giáo viên chủ nhiệm là tấm gương sáng cho học sinh noi theo 
 Để phối hợp hiệu quả với cha mẹ học sinh trong việc rèn luyện và phát 
triển các phẩm chất, năng lực cho các em thì trước tiên giáo viên chủ nhiệm 
cần là tấm gương sáng cho các em noi theo. 
 13 
 Trong giờ ra chơi, tôi thường trò chuyện cùng học sinh, tôi luôn tạo 
điều kiện cho cô trò gần gũi tình cảm, dễ chia sẻ cảm thông với nhau hơn. Có 
như vậy thì các em mới dám nói, dám tâm sự và giáo viên mới hiểu được tâm 
tư, tình cảm của các em, từ đó có thể động viên, khích lệ và đưa ra những lời 
khuyên tốt cho các em. Cùng các em thực hiện các hoạt động ngoài giờ lên 
lớp cũng góp phần tạo mối quan hệ gần gũi giữa giáo viên và học sinh. 
 Gương mẫu trước học sinh: Lấy nhân cách của giáo viên làm hình mẫu 
 về phẩm chất nhân ái, yêu thương, chia sẻ với những khó khăn của học sinh. 
 Nêu gương học sinh điển hình trong lớp về phẩm chất nhân ái: tuyên 
dương những học sinh biết yêu thương, quan tâm tới mọi người xung quanh, 
dù cho là những hành động rất nhỏ như: giúp bạn học để cùng tiến bộ, giúp 
mẹ việc nhà san sẻ nỗi vất vả của mẹ, giúp đỡ những bạn gặp khó khăn, đưa 
cụ già qua đường 
 Việc tuyên dương học sinh điển hình trong lớp về phẩm chất nhân ái sẽ 
khích lệ tinh thần của học sinh đó, tạo ra niềm vui, qua đó khuyến khích các 
em tiếp tục phát huy phẩm chất tốt đẹp. Những phần thưởng cũng rất nhỏ thôi 
nhưng có thể mang lại những hiệu quả rất tích cực. 
 Ảnh 3: Học sinh được tuyên dương, nhận phần thưởng 
 14 
 *Phối hợp với cha mẹ học sinh để giáo dục lòng nhân ái cho các em 
 Việc phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh phải gắn bó chặt chẽ 
với mục tiêu, yêu cầu cần đạt về các phẩm chất, năng lực còn lại được quy 
định trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018 thì mới đạt được hiệu quả 
giáo dục toàn diện. Để đạt được thành công trong việc giáo dục học sinh, giáo 
viên cần có những kế hoạch, biện pháp, việc làm cụ thể, rõ ràng. Giáo viên 
cần có những biện pháp phối hợp với gia đình, phụ huynh học sinh để giáo 
dục các phẩm chất, năng lực cho học sinh, đặc biệt là phẩm chất nhân ái. Giáo 
viên cần thường xuyên cập nhật công nghệ thông tin để thông tin, liên lạc tới 
gia đình học sinh khi có bất cứ hành vi đạo đức nào chưa chuẩn mực.Đồng 
thời gia đình học sinh cần chia sẻ, phản hồi lại tình hình con em ở nhà để 
cùng có hướng điều chỉnh, uốn nắn. 
 Đầu tiên, giáo viên cần phối hợp với các bậc cha mẹ quan tâm tạo điều 
kiện thuận lợi như giúp các em rèn luyện các nền nếp thói quen học tập, vệ 
sinh, mua sắm đồ dùng học tập đầy đủ, các kỹ năng tự chăm sóc cá nhân, bảo 
vệ bản thân, có ý thức, trách nhiệm về việc học tập, sinh hoạt của bản thân, 
trách nhiệm của mình với gia đình, nhà trường,... 
 Thứ hai, cha mẹ, ông bà trong gia đình cần làm gương cho con cái về 
đạo đức, lối sống phù hợp với đạo đức, pháp luật, luôn quan tâm, yêu thương, 
theo dõi và thấu hiểu tâm lí con em mình. Phụ huynh cần chú trọng tạo dựng 
môi trường gia đình tràn ngập tình yêu thương, bình đẳng và trách nhiệm, tổ 
chức lối sống gia đình lành mạnh, các thành viên trong gia đình yêu thương, 
sẻ chia, gắn kết và cha mẹ, ông bà nêu gương cho con trẻ học theo, làm theo 
những điều tốt đẹp, có giá trị nhân văn lớn lao, tuân thủ pháp luật. Nếu con có 
biểu hiện chưa tốt, cần phối hợp với giáo viên chủ nhiệm và nhà trường để 
uốn nắn, giáo dục con kịp thời. 
 Thứ ba, giáo viên hướng dẫn phụ huynh biết cách lấy con trẻ làm trọng 
tâm trong quá trình dạy dỗ, giáo dục và nghiêm túc trong việc dạy bảo con trẻ, 
giáo dục, rèn luyện con trẻ học hỏi tính kỷ luật, sự tôn trọng các thành viên, 
 15 
nhất là cha mẹ, ông bà để con trẻ có thời gian luyện tập nhân cách của mình. 
 Thứ tư, mỗi bậc cha mẹ không chỉ cần quan tâm, chăm sóc mà còn phải 
tôn trọng, hiểu đúng về con trẻ để việc giáo dục đúng, đạt hiệu quả. Cần phải 
tạo được sự gần gũi, thân mật, tin tưởng ở con trẻ, để con trẻ coi mình là 
những người bạn lớn mà chia sẻ tâm tư, tình cảm, diễn biến tâm lý bên trong, 
từ đó cha mẹ, ông bà có thể hiểu được các mối quan hệ, khát vọng, cảm xúc, 
suy nghĩ, nguyện vọng, mong muốn, sở thích, lo lắng, niềm vui, nỗi buồn của 
con trẻ,... 
 Cuối cùng, các bậc cha mẹ cần không ngừng học hỏi, tích cực phối hợp 
 với giáo viên tìm hiểu những tri thức khoa học, xã hội, trang bị và nâng cao 
 kiến thức, khả năng chăm sóc, dạy dỗ và giáo dục con cái, để không chỉ góp 
 phần tăng cường, nâng cao và phát huy được vai trò giáo dục gia đình, nhất là 
với các bậc cha mẹ ở khu vực nông thôn, miền núi mà còn khắc phục phương 
pháp giáo dục chỉ dựa trên kinh nghiệm và cảm tính. 
 Tóm lại, sự phối hợp chặt chẽ ba môi trường giáo dục trên, đặc biệt là 
 giữa nhà trường (đại diện là giáo viên chủ nhiệm) với phụ huynh học sinh là 
vô cùng quan trọng trong việc giáo dục nhân cách, phẩm chất đạo đức của trẻ, 
cụ thể là lòng nhân ái. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng răn dạy: “Có tài mà không 
có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” 
nhằm đề cao việc giáo dục đạo đức cho con người mà lòng nhân ái là phẩm 
chất cơ bản nhất để hình thành nhân cách và lòng thiện lương của con người. 
Bởi vậy, việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục phẩm 
chất nhân ái cho học sinh là vấn đề cơ bản hàng đầu mà tất cả các lực lượng 
giáo dục phải phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động phối hợp vì mục tiêu 
giáo dục đào tạo thế hệ trẻ thành những người công dân hữu ích cho đất nước. 
 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 
 1. Kết quả khi áp dụng các biện pháp 
 Trong năm học 2022-2023, tôi đã áp dụng các biện pháp trên vào thực 
 tế công tác chủ nhiệm. Kết quả đạt được như sau: 
 16 
Thời điểm Số HS có hành Số HS có hành Số HS chưa có 
 khảo sát động nhân ái với động nhân ái với hành động 
 bạn trong lớp bạn trong lớp nhân ái 
 nhưng chưa 
 thường xuyên 
 SL % SL % SL % 
 9/2022 10 33,33 15 50 5 16,67 
 4/2023 24 80 6 20 0 0 
 ( + ) ( - ) ( - ) 
 46,67 % 30% 16,67% 
 * Những hành vi đạo đức của các em có hướng chuyển biến tốt: 
 - Số học sinh có hành động nhân ái với bạn trong lớp tăng 46,67%. Các 
em đã vâng lời ông bà, cha mẹ,biết chia sẻ với những hoàn cảnh khó khăn. 
Đồng thời, các em đoàn kết, giúp đỡ nhau trong học tập, hòa đồng chơi cùng 
 các bạn, không còn chia nhóm chơi. 
 - Số HS có hành động nhân ái với bạn trong lớp nhưng chưa thường 
xuyên giảm 30 %. Các em biết tôn trọng sự khác biệt của bạn bè trong lớp về 
cách ăn mặc, tính nết và hoàn cảnh gia đình.Nhờ đó mà học lực của các em 
cũng tiến bộ hơn, không còn trêu ghẹo các bạn nữ nữa. 
 2. Ứng dụng 
 Năm học 2022 - 2023, áp dụng kinh nghiệm vào thực tế công tác 
chủnhiệm ởlớp 2, tôi thấy các em có sự tiến bộ rõ rệt trong hành vi đạo 
đứccủa mình. Các biện pháp trên có tính khả thi, có thể áp dụng vào thực 
tiễn nhằm nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp. Tôi thiết nghĩ các 
biện pháp này có thể áp dụng đối với tất cả các khối lớp khác trong và 
ngoài nhà trường. 
 17 
 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 
 1. Kết luận 
 1.1. Ý nghĩa của biện pháp 
 Giáo dục lòng nhân ái không chỉ có ý nghĩa về mặt giáo dục đạo đức 
mà góp phần quan trọng trong việc nâng cao kết quả học tập. Sự chia sẻ tài 
liệu môn học giữa các học sinh trong lớp; sự trao đổi cởi mở về bài học; sự 
tận tình giảng bài cho bạn;... là những nhân tố quan trọng trong việc hình 
thành phong trào thi đua học tập trong lớp. Đồng thời, chất lượng công tác 
chủ nhiệm lớp cũng được nâng cao. 
 Khi lòng nhân ái thật sự được hình thành ở mỗi cá nhân học sinh thì 
lớp học sẽ trở thành ngôi nhà chung của mọi sự khác biệt và mỗi ngày đến 
lớp sẽ là một ngày vui. Những học sinh chưa có hoặc có ít hành động thể 
hiện sự nhânái cũng dần thay đổi hành vi, tính cách để phù hợp với bạn bè 
trong lớp. 
 Tôi đã làm công tác chủ nhiệm bằng cả trách nhiệm của một giáo viên 
nhiệt tình và bằng tất cả tình cảm của một người mẹ. Những học sinh có lòng 
nhân ái sẽ không chỉ là những đứa con ngoan, hiếu thảo, những người bạn tốt 
biết chia sẻ mà hơn hết các em sẽ trở thành những học sinh luôn biết phấn đấu 
trong học tập và tu dưỡng để làm hài lòng thầy cô và bố mẹ. 
 Việc hình thành lòng nhân ái cho học sinh sẽ đem lại hiệu quả to lớn về 
nhiều mặt giáo dục. Các em học sinh sẽ tự hoàn thiện mình; Nhà trường sẽ có 
một không gian văn hóa đúng mực; Phụ huynh học sinh sẽ luôn có niềm tin 
với giáo viên chủ nhiệm và nhà trường, góp phần làm giảm bớt tệ nạn ngoài 
xã hội.Đó chính là thành quả lớn nhất mà tôi đạt được khi tìm tòi, nghiên cứu 
biện pháp phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 2. 
 1.2. Bài học kinh nghiệm 
 Sau khi áp dụng biện pháp, tôi rút ra được bài học kinh nghiệm như sau: 
 18 
 - Giáo viên cần xác định rõ phẩm chất nhân ái là một phẩm chất độc lập 
trong 5 phẩm chất của chương trình giáo dục phổ thông 2018. Phẩm chất này 
có ý nghĩa đặt biệt quan trọng trong việc hình thành nhân cách sống vì mọi 
người của mỗi học sinh. Từ đó có kế hoạch giáo dục cụ thể, chính xác đến đối 
 tượng học sinh trong lớp mà mình chủ nhiệm. 
 - Cần lựa chọn những nội dung mang tính thực tiễn và phù hợp với lứa 
 tuổi lớp 2 để lồng ghép trong chương trình dạy học sẽ đạt hiệu quả nhất. Bởi 
những hành động từ thực tiễn đó sẽ là động lực, là niềm tin cho các em học 
tập, noi gương và làm theo từ những việc nhỏ phù hợp với bản thân mình. 
 - Cần nghiên cứu cứu kĩ chương trình, thời gian để tích hợp các nội dung 
một cách hợp lí, tránh làm dụng làm ảnh hưởng đến những môn học khác. 
 - Cần xây dựng mối quan hệ mật thiết với cha mẹ học sinh để cùng hợp 
tác giáo dục học sinh. Bởi ở lứa tuổi tiểu học nói chung, lớp 2 nói riêng, mọi 
nền nếp sinh hoạt trong gia đình đều ảnh hưởng trực tiếp đến tâm sinh lí của 
các em. 
 - Giáo viên cần học tập, rèn luyện kĩ năng, chuyên môn nghiệp vụ để 
theo kịp sự đổi mới và phát triển của xã hội, nhất là công nghệ thông tin. Bởi 
khi xã hội đã chuyển sang giai đoạn hiện đại hoá, công nghệ số thì giáo viên 
không giỏi công nghệ thông tin sẽ không đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. 
 2. Kiến nghị 
 2.1.Đối với gia đình 
 - Ban đại diện cha mẹ học sinh cần có kế hoạch phối hợp với các gia 
đình cùng giáo dục con em mình. 
 - Tác động trực tiếp đến các gia đình hạn chế cho con em xem giải trí 
thiếu lành mạnh tên các kênh truyền thông, Internet, 
 - Tôn trọng và phối hợp với giáo viên chủ nhiệm đê cùng giáo dục con 
em mình. 
 2.2. Đối với cấp quản lí 
 19 
 - Ban Giám hiệu tổ chức các hội thảo dành cho phụ huynh học sinh với 
nội dung giáo dục lòng nhân ái cho con em. 
 - Nhà trường cần thường xuyên tổ chức những buổi thảo luận trao đổi 
về chủ đề ứng xử cho học sinh: đưa ra các tình huống cụ thể thường gặp trong 
cuộc sống để các em tự rút ra bài học, kinh nghiệm cho bản thân. Tổ chức các 
trò chơi, các cuộc thi để hướng học sinh vào những hoạt động lành mạnh, 
tránh xa tệ nạn và các hành vi bạo lực ngoài xã hội... 
 Trên đây là biện pháp“Một số biện pháp phát triển phẩm chất nhân ái 
cho học sinh lớp 2” mà bản thân tôi trong quá trình làm công tác chủ nhiệm 
đã nghiên cứu, tìm tòi và áp dụng. Tuy nhiên do thời gian và năng lực có hạn 
chắc hẳn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong Hội đồng khoa học 
sáng kiến các cấp, Ban giám hiệu nhà trường và anh chị em đồng nghiệp góp 
ý, chia sẻ để sáng kiến của cá nhân tôi ngày một hoàn thiện và ứng dụng dài 
lâu trong công tác chủ nhiệm. 
 Tôi xin chân thành cảm ơn./. 
 20 
 Tài liệu tham khảo 
1. Thông tư 32/2018/QĐ-BGDĐT, ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ Giáo 
dục và Đào tạo ban hành Chương trình giáo dục phổ thông. 
2. Công văn 2345/BGDĐT- GDTH ngày 07 tháng 06 năm 2021 của BộGiáo 
dục & Đào tạo về việc Hướng dẫn xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường 
cấptiểu học. 
3. Nguyễn Minh Thuyết (Tổng chủ biên kiêm Chủ biên), Tiếng Việt 2, tập 1, 
NXB ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh. 
4. Nguyễn Minh Thuyết (Tổng chủ biên kiêm Chủ biên), Tiếng Việt 2, tập 2, 
NXB ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh. 
5. Trần Văn Thắng (Tổng chủ biên), Đạo đức 2, NXB ĐHSP Thành phố Hồ 
Chí Minh. 
6. Nguyễn Dục Quang (Tổng chủ biên), Hoạt động trải nghiệm 2, NXB 
ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh. 
7. Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, NXB Chính trị Quốc 
gia Thành phố Hồ Chí Minh. 
8. Phương pháp dạy học các môn học ở Tiểu học, NXB Giáo dục, 2007. 
9. Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT: Quy định đánh giá học sinh tiểu học từ 
20/10/2020 

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bien_phap_phat_trien_pham_chat_nhan_ai_cho_hoc_sinh_l.pdf
Bài giảng liên quan