Một số biện pháp phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 2
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số biện pháp phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 2, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên
1 MỤC LỤC I. PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................... 2 1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 2 2. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 3 3. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 3 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .................................................................... 3 5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 3 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ........................................................................ 4 1. Cơ sở lý luận ................................................................................................. 4 2. Cơ sở thực tiễn .............................................................................................. 5 3. Các biện pháp ................................................................................................ 7 3.1. Biện pháp 1: Tạo cơ hội cho học sinh bộc lộ và phát triển phẩm chất nhân ái ............................................................................................................... 7 3.2. Biện pháp 2:Phát triển lòng nhân ái thông qua các hoạt động trải nghiệm ........................................................................................................................... 9 3.3. Biện pháp 3: Giáo dục “Tôn trọng sự khác biệt” cho học sinh .............. 11 3.4. Biện pháp 4: Phối hợp với cha mẹ học sinh để giáo dục lòng nhân ái cho các em .............................................................................................................. 12 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG .................................................................... 15 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................. 17 Tài liệu tham khảo ........................................................................................... 20 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nhân dân ta từ xưa đến nay luôn có tấm lòng nhân ái, đó là truyền thống quý báu đáng quý giúp gắn kết trái tim của mọi người với nhau, từ đó tạo ra sức mạnh toàn dân đại đoàn kết. Tình cảm đó giúp con người vượt qua khó khăn và đi đến thành công. Đặc biệt với nền giáo dục của chúng ta hiện nay, việc thực hiện chương trình GDPT 2018 không chỉ chú trọng đến dạy kiến thức cho học sinh mà đặc biệt chú trọng phẩm chất, năng lực cho học sinh. Hình thành và phát triển phẩm chất cho học sinh tiểu học là một việc làm vô cùng quan trọng nhất là với lứa tuổi nhỏ, lứa tuổi đang "như búp trên cành". Ngay từ ban đầu việc hình thành và phát triển cho các em có những phẩm chất, đặc biệt là phẩm chất “nhân ái” là một việc làm vô cùng thiết thực, nó giúp các em hình thành nên thói quen có hành vi đạo đức tốt mãi mãi về sau. Ngày nay cùng với sự phát triển của nền công nghiệp theo hướng hiện đại hóa, sự phát triển công nghệ 4.0 bên cạnh những thành tựu đạt được thì những giá trị truyền thống, giá trị đạo đức, lòng nhân ái cũng bị biến tướng, lệch lạc trong một phần giới trẻ. Vì vậy chúng ta phải giáo dục học sinh bằng cách này hay cách khác để các em thấy được những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của ông cha ta trong đó có lòng nhân ái, đó chính là một phẩm chất vô cùng đẹp của con người nên chúng ta cần phải cố gắng phát huy và áp dụng vào cuộc sống xung quanh. Từ những lí do trên, là giáo viên chủ nhiệm trực tiếp giảng lớp 2 năm học 2022-2023, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu và áp dụng: Một số biện pháp phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 2. 3 2. Mục đích nghiên cứu Giúp học sinh có những nhận thức đúng đắn về phẩm chất nhân ái. Từ đó các em biết sống nhân ái, biết điều chỉnh hành vi của mình trong những tình huống khác nhau của cuộc sống. Học sinh biết yêu quý mọi người,tôn trọng sự khác biệt của những người xung quanh, không phân biệt đối xử, sẵn sàng tha thứ, tôn trọng về văn hóa, tôn trọng cộng đồng. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về việc phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 2. Đề xuất áp dụng một số biện pháp nhằm phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 2. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 2. Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 2 được phân công chủ nhiệm 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu tài liệu:Tìm hiểu sách giáo khoa, sách giáo viên, các công văn, thông tư, quyết định có liên quan đến biện pháp. Phương pháp nghiên cứu thực tế: Dự giờ, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp về nội dung giáo dục, tổng kết, rút kinh nghiệm trong quá trình dạy học.Lập kế hoạch dạy học, kế hoạch bài dạy. Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến biện pháp. Phương pháp thực nghiệm: Áp dụng những biện pháp tìm được vào việc giảng dạy cho học sinh của lớp. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm đúc rút được trong quá trình giáo dục học sinh. 4 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 - Chương trình tổng thể chính thức được Bộ giáo dục và Đào tạo công bố vào ngày 27 tháng 12 năm 2018, phẩm chất “nhân ái” là một trong năm phẩm chất cốt lõi sau: Yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. Đối với cấp tiểu học phẩm chất nhân ái bao hàm các biểu hiện sau đây: Biểu hiện Yêu cầu cần đạt Yêu quý - Yêu thương, quan tâm, chăm sóc người thân trong gia đình. mọi người - Yêu quý bạn bè, thầy cô; quan tâm, động viên, khích lệ bạn bè - Tôn trọng người lớn tuổi; giúp đỡ người già, ốm yếu, người khuyết tật; nhường nhịn và giúp đỡ em nhỏ. - Biết chia sẻ với những bạn có hoàn cảnh khó khăn, các bạn ở vùng sâu, vùng xa, người khuyết tật và đồng bào bị ảnh hưởng của thiên tai. Tôn trọng - Tôn trọng sự khác biệt của bạn bè trong lớp về cách ăn mặc, sự khác tính nết và hoàn cảnh gia đình. biệt giữa - Không phân biệt đối xử, chia rẽ các bạn. mọi người - Sẵn sàng tha thứ cho những hành vi có lỗi của bạn * Định nghĩa “nhân ái” Từ những khái quát rút ra được qua nghiên cứu các tài liệu liên quan tham khảo được, có thể đưa ra cách hiểu: “Phẩm chất nhân ái là một giá trị nhân cách phổ quát, hướng cá nhân tin tưởng vào bản chất lương thiện của con người, luôn suy nghĩ làm những điều tốt, tin rằng con người có thể được giáo dục để trở nên tốt. Lòng nhân ái của một người được biểu hiện ra trong mối quan hệ với những người xung quanh ở sự yêu thương, chia sẻ; đồng cảm, nhân từ; vị tha, khoan dung; đoàn kết, trách nhiệm; biết ơn, tôn trọng”. 5 2. Cơ sở thực tiễn * Thực trạng Trong những năm qua, việc dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh đã được Ban giám hiệu nhà trường đặc biệt quan tâm. Giáo viên được tạo điều kiện thuận lợi trong việc phát triển năng lực chuyên môn, sáng tạo, đổi mới trong việcáp dụng các phương pháp dạy học, các hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp với đối tượng học sinh, phù hợp với đặc thù môn học và đặc biệt luôn bám sát đúng chương trình và mục tiêu bài học.Bên cạnh đó, nhà trường có đầy đủcơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, mạng Internet nhằm phục vụ tốt nhất cho hoạt động dạy và học. Học sinh có nhiều cơ hội tham gia các hoạt động trải nghiệm, hoạt động tập thể hoặc tương tác trên môi trường mạng Internet,... Nhờ đó mà năng lực, phẩm chất của các em cũng được phát triển. Tuy nhiên nhiều học sinh được bố mẹ cho sử dụng điện thoại, ti vi, Các em xem một số kênh có nội dung giải trí thiếu lành mạnh, không phù hợp với lứa tuổi, không có tác dụng về giáo dục đạo đức nhất là giáo dục lòng nhân ái. Vì thế khi đến lớp tham gia học tập và rèn luyện, nếu giáo viên chỉ giáo dục theo cách thông thường thì sẽ không hiệu quả. Từ đó, các em dễ nhàm chán và hay lãng quên, dần dần dẫn đến sự vô cảm, thờ ơ, *Kết quả của thực trạng Năm học 2022 - 2023, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 2. Lớp có 30 học sinh, trong đó có 12 học sinh nữ và 18 học sinh nam. Vì lớp đông học sinh namhơn nên các em hiếu động, nghịch ngợm và ít chăm học hơn. Hầu hết các em đều là con nhà nông, cuộc sống còn nhiều khó khăn. Ngay trong tuần lễ đầu nhận lớp, tôi bắt tay vào việc tìm hiểu, quan sát thái độ, cử chỉ cũng như hành vi đạo đức của các em với bạn trong lớp. Chỉ mới một tuần mà tôi đã nhận thấy các em đã bộc lộ những hành vi đạo đức chưa tốt. Tôi tiến hành điều tra mức độ học sinh có hành động nhân ái với bạn trong lớp và thu được kết quả sau: 6 Số HS có hành Số HS có hành động động nhân ái với Số HS chưa có TSHS nhân ái với bạn bạn trong lớp hành động nhân ái trong lớp nhưng chưa thường xuyên SL % SL % SL % 30 10 33,33 15 50 5 16,67 Căn cứ vào bảng trên kết hợp với trao đổi với giáo viên bộ môn và phụ huynh học sinhtôi thấy: Số học sinh có hành động nhân ái với bạn trong lớp còn ở mức khiêm tốn. Các embiết vâng lời ông bà, bố mẹ, tích cực học và làm bài, luôn yêu thương, đoàn kết với bạn bè. Số học sinh có hành động nhân ái với bạn trong lớp nhưng chưa thường xuyên còn chiếm tỉ lệ cao, được thể hiện ở chỗ các em biết tôn trọng người lớn tuổi, biết tham gia chơi cùng bạn nhưng đôi lúc còn hay nghịch, hay trêu đùa bạn quá mức, lấy việc trêu đùa bạn như một trò chơi rất vui. Số học sinh chưa có hành động nhân ái còn chiếm tỉ lệ cao. Có em nhút nhát, hay chơi một mình, ít trao đổi với bạn, một số em phân biệt đối xử, chia rẽ bạn bè. Các em được bố mẹ nuông chiều quá mức, có em còn thiếu sự quan tâm sát sao của bố mẹ. *Nguyên nhân Do đặc thù tâm lý lứa tuổi tiểu học: các em chưa có ý thức tự học cao, chưa điều khiển được hành vi của mình theo hướng tích cực. Một số em bắt chước theo cách ứng xử của cha mẹ, của các thanh thiếu niên hư hỏng gần nhà. Một số em là con một, hoàn cảnh gia đình “khá giả” nên được bố mẹnuông chiều, luôn cho mình là trung tâm và ít quan tâm tới người khác. Một số em còn thiếu sự quan tâm đúng mức của gia đình vì phần lớn các em có cha mẹ đi làm ăn xa, các em ở với ông bà hoặc cha mẹ làm công nhân tăng ca nhiều nên hầu như không quan tâm để ý đến con cái và không quản lí được giờ giấc đến trường và sinh hoạt của các em. 7 Ngoài ra, còn nguyên nhân chủ quan nữa là do chưa có một giải pháp kết hợp giáo dục tốt cho các em ở trường, ở nhà và ngoài xã hội. Xuất phát từ thực trạng trên tôi mạnh dạn đề xuất áp dụng một số biện pháp sau: 3. Các biện pháp 3.1. Biện pháp 1: Tạo cơ hội cho học sinh bộc lộ và phát triển phẩm chất nhân ái * Giáo dục học sinh trong tuần học đầu năm Tôi thực hiện giải pháp này vào trong tiết sinh hoạt trong tuần đầu năm học (tuần 0) theo kế hoạch nhà trường. Cách thực hiện: Tiết 1: Tiết đầu ấn tượng Hoạt động 1: Kể chuyện “Chuyện bốn mùa” Sau khi câu chuyện kết thúc giáo viên yêu cầu học sinh hãy cho biết những cảm nhận của bản thân các em qua câu chuyện vừa rồi. Bài học được rút ra qua hoạt động này: Mỗi chúng ta đều có những vẻ đẹp riêng, đều có những đức tính tốt không ai giống ai mỗi người một màu sắc làm cho cuộc sống đầy màu sắc, ai cũng mong muốn được mang lại những điều tốt đẹp cho đời, cho xã hội. Vì vậy chúng ta không có phân biệt đối xử mà phải đoàn kết, yêu thương nhau tạo nên một tập thể vững mạnh. Hoạt động 2: Hướng dẫn học sinh làm THẺ giá trị bản thân Mỗi học sinh sẽ được phát 1 thẻ hình chữ nhật như một lá bài do giáo viên chuẩn bị, có màu sắc khác nhau, sau đó cho học sinh trang trí tấm thẻ của mình. Trong thẻ có các thông tin: Họ và tên, ngày tháng năm sinh, nickname, sở thích và điều mà bản thân học sinh muốn hướng tới, nỗ lực phấn đấu để có được nó. Hoạt động 3: Trò chơi “Kết bạn” Sau khi học sinh làm thẻ giá trị, giáo viên tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi “Kết bạn” để cho học sinh trong lớp tìm hiểu nhau, chia sẻ các thông tin trên tấm thẻ của mình với các bạn. 8 Hoạt động 4: Tổ đoàn kết GV chia tổ một cách ngẫu nhiên, các bạn có màu sắc giống nhau thì về chung một tổ. Tiết học mang lại nhiều ấn tượng giữa học sinh và giáo viên, ấn tượng với các bạn trong lớp và cảm thấy hứng thú cho một năm học mới bắt đầu. Tiết 2: Thảo luận đề ra “Kỷ luật yêu thương” Sau khi đã được chia tổ ở tiết trước, các học sinh trong tổ sẽ được ngồi với nhau. Mỗi tổ sẽ thảo luận nhóm và trình bày trang trí vào bảng phụ hoặc giấy A0, đề ra những nội quy lớp mà các em sẽ cùng nhau thực hiện. Sau đó giáo viên bốc thăm ngẫu nhiên mỗi tổ một thành viên lên bảng trình bày. Sau khi trình bày của các nhóm, giáo viên cùng với học sinh thống nhất những nội quy chung của cả lớp dựa trên các nội quy chung của các tổ. Học sinh tự đưa ra những nội quy thì sẽ có trách nhiệm hơn, ko ép buộc học sinh thực hiện những nội quy mà học sinh sẽ có ý thức tự giác thực hiện những nội quy mình tự đưa ra. * Lồng ghépcác câu chuyện, video,âm nhạc,... để giáo dục học sinh Ở lứa tuổi lớp 2, học sinh rất thích được nghe kể chuyện, nhất là những câu chuyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết, những câu chuyện mang yếu tố thần kì như ông Bụt, cô Tiên, luôn là đề tài nóng hổi để gây sự chú ý từ các em. Bên cạnh đó, video hoặc phim hoạt hình là thể loại các em yêu thích nhất, nó có tác động trực tiếp đến cảm nhận và các hoạt động bắt chước rất nhanh. Nắm bắt được yếu tố tâm lý này mà tôi đã lồng ghép nội dung trên vào trong các buổi học để giáo dục các em. Để tạo cơ hội cho học sinh bộc lộ và phát triển phẩm chất nhân ái, tôi đã thực hiện theo3 bước sau: Bước 1: Lựa chọn những câu chuyện, video, âm nhạc,... có tính giáo dục lòng nhân ái. Bước 2: Bố trí thời gian hợp lý để lồng ghép câu chuyện, video, âm nhạc,... đảm bảo tính khoa học và tính sư phạm. 9 Bước 3: Kể chuyện, xem video và trao đổi. Ví dụ: Ở tiết Hoạt động trải nghiệm tuần 13 bài “Giúp đỡ người gặp hoàn cảnh khó khăn ” tôi dành 15 phút cho các em xem video về hoạt động ủng hộ đồng bào lũ lụt ở miền Trung. Sau khi các em xem xong, tôi cùng trao đổi với các em về ý nghĩa của hành động quyên góp trên từ các bạn học sinh. Tôi đưa ra một số câu hỏi để dẫn các em vào tìm hiểu ý nghĩa của việc làm trên, từ đó xây dựng trong mỗi cá nhân các em lòng nhân ái, biết chia sẻ khó khăn với những người, những gia đình gặp hoạn nạn, hiểu về giá trị của phong trào: “Lá lành đùm lá rách”, Bên cạnh đó, tôi cũng luôntạo cơ hội cho học sinh được phát huysở trường của mình như thảo luận nhóm sắm vai kể lại câu chuyện hoặc xử lý tình huống,.. có tính giáo dục lòng nhân ái. Học sinh vô cùng hào hứng và thích thú khi tham gia những hoạt động này. Đây cũng là cơ hội để các embộc lộ và phát triển phẩm chất nhân ái. Đồng thời các năng lực, phẩm chất khác cũng được hình thành và phát triển theo. 3.2. Biện pháp 2:Phát triển lòng nhân ái thông qua các hoạt động trải nghiệm Các năng lực, phẩm chất học sinh không chỉ được hình thành trong quá trình học tập và rèn luyện mà nó còn được hình thành nhiều qua các hoạt động trải nghiệm trong và ngoài nhà trường. Hoạt động trải nghiệm có thể tổ chức quy mô lớn nhỏ tùy vào thời gian, điều kiện của nhà trường, của từng lớp, từng đối tượng học sinh. Ngoài các hoạt động trải nghiệm theo quy mô lớn như tổ chức theo trường, theo khối, tôi thấy các trải nghiệm qui mô nhỏ (theo từng lớp riêng) cũng rất cần thiết và mang lại hiệu quả cao. Tôi đã lên kế hoạch, cùng học sinh trang trí “Góc chia sẻ yêu thương” tại lớp học. Tại góc này, học sinh chia sẻ tâm tư, tình cảm với thầy cô và các bạn có thể qua các bài viết hoặc lá thư, tấm thiệp, món quà,... do chính các em làm. Ngoài ra học sinh còn được chia sẻ với nhau đồ dùng học tập. Các em vô cùng hào hứng, phấn khởi khi tham gia hoạt động này.Hoạt động không chỉ 10 giáo dục các em về sự chia sẻ, giúp đỡ người khác mà còn giúp lớp học sẽ trở thành một môi trường học tập thân thiện, hạnh phúc, mỗi ngày các em đến trường là một ngày vui. Đây cũng là một “luồng gió mới” giúp các em hăng say, nỗ lực hơn trong học tập để gặt hái được nhiều thành công. Ngoài ra, tôi còn khuyến khích học sinh tham gia tích cực các phong trào nhân ái khác do trường, Đội phát động như: Nuôi heo đất, Xuân yêu thương, Kế hoạch nhỏ, Vũ khúc 1000 đồng quyên góp ủng hộ học sinh có hoàn cảnh khó khăn, Ủng hộ đồng bào miền Trung,...Việc tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động trải nghiệm tạo cho trẻ niềm say mê tìm hiểu, thích khám phá, biết cách lĩnh hội những kiến thức mới, cách hình thành kỹ năng mới. Hoạt động còn giúp học sinh thấu hiểu ý nghĩa của sự lao động, sáng tạo khi làm ra một sản phẩm nào đó.Đồng thời giáo dục học sinh lòng nhân ái, các em biết chia sẻ với những hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống. Ảnh 1: Học sinh tích cực tham gia phong trào Kế hoạch nhỏ 11 Ảnh 2: Học sinh tham gia chương trình Vũ khúc 1000 đồng 3.3. Biện pháp 3:Giáo dục “Tôn trọng sự khác biệt” cho học sinh Đây là một nội dung mới về biểu hiện phẩm chất. nhân ái trong chương trình giáo dục phổ thông mới. Bản chất của cuộc sống, của thế giới là sự đa dạng, phong phú, nhiều màu sắc. Mỗi người là một cá thể riêng biệt, độc đáo không trộn lẫn, không lặp lại. Ngay cả những cặp anh chị em sinh đôi, có cùng cha mẹ, cùng hưởng thụ một cách nuôi dưỡng, một nền giáo dục gia đình, cũng không hoàn toàn giống nhau, thậm chí sự khác biệt cũng rất rõ nét. Vậy làm sao có thể bắt người khác giống mình về sở thích, khiếu thẩm mĩ, quan điểm sống và nhiều thứ khác nữa? Việc vận dụng trò chơi để tác động vào rèn luyện và phát triển phẩm chất nhân ái cho các em là một bước đi đúng hướng mà tôi đã nghiên cứuvà lựa chọn. Tôi quyết định thiết kế một số trò chơi lồng ghép vào các bài học có yếu tố nhân ái để từng bước giúp các em thấm nhuần giá trị đạo đức về tình người, trong đó có giáo dục các em về “Tôn trọng sự khác biệt”. Ví dụ: Trò chơi “Ở ngoài kia là rừng rậm” Bước 1: Giáo viên in sẵn hình ảnh 4 con vật: sư tử, đại bàng, rùa, thỏ 12 và dán 4 góc (có thể đổi con khác cũng được). Yêu cầu học sinh chọn 1 con mình muốn trở thành và đứng vào góc có dán hình con đó. Giáo viên phát tờ giấy ở nửa trên có in sẵn câu "Tại sao mình muốn thành sư tử?", nửa dưới in câu "Tại sao mình không muốn thành đại bàng, rùa, thỏ?". Tương tự cho 3 tờ giấy còn lại. Các nhóm liệt kê các lý do muốn và không muốn vào giấy. Bước 2: Mỗi nhóm cử đại diện lên đọc to lý do vì sao nhóm mình thích vật đó (ví dụ thích sư tử vì nó oai phong, dũng mãnh), cử 1 em tình nguyện viên đọc 3 tờ giấy còn lại nêu lý do không thích con sư tử (vì nó hung hăng, tạo cảm giác sợ hãi...). Tương tự như thế cho 3 con vật còn lại. Bước 3: Hỏi học sinh học được bài học gì qua trò chơi vừa rồi. Các em sẽ trả lời được: Con vật mà em thích có khi bạn ghét, ít nhất có 4 cách nhìn khác nhau về 1 con vật cả tốt lẫn xấu. Giáo viên sẽ chốt bài học: Có nhiều cách để nhìn nhận một ai đó, điều mình không thích ở người này thì có khi ai đó lại thấy điều đó là tốt, giả sử mỗi bạn trong lớp mình là một con vật thì sẽ có gần mấy chục cách nhìn khác nhau về ai đó, mỗi người đều có ưu và khuyết điểm riêng, nên nhìn thấy điều tốt của bạn thì mới gần gũi nhau, lớp mới thành một tập thể đoàn kết được. Bước 4: Giáo viên chuẩn bị sẵn các thẻ nhỏ, mỗi thẻ ghi tên 1 bạn và phát thẻ ngẫu nhiên trong lớp. Ai nhận được thẻ có tên bạn viết trong thẻ thì hãy viết vào mặt sau 1 điều tốt mà mình nhìn thấy ở bạn. Sau đó chạy quanh lớp tìm bạn và trao thẻ, bắt tay nhau nói "mình thích điều đó ở bạn". Từ đó các bạn sẽ hiểu và yêu thương nhau nhiều hơn. 3.4. Biện pháp 4: Phối hợp với cha mẹ học sinh để giáo dục lòng nhân ái cho các em *Giáo viên chủ nhiệm là tấm gương sáng cho học sinh noi theo Để phối hợp hiệu quả với cha mẹ học sinh trong việc rèn luyện và phát triển các phẩm chất, năng lực cho các em thì trước tiên giáo viên chủ nhiệm cần là tấm gương sáng cho các em noi theo. 13 Trong giờ ra chơi, tôi thường trò chuyện cùng học sinh, tôi luôn tạo điều kiện cho cô trò gần gũi tình cảm, dễ chia sẻ cảm thông với nhau hơn. Có như vậy thì các em mới dám nói, dám tâm sự và giáo viên mới hiểu được tâm tư, tình cảm của các em, từ đó có thể động viên, khích lệ và đưa ra những lời khuyên tốt cho các em. Cùng các em thực hiện các hoạt động ngoài giờ lên lớp cũng góp phần tạo mối quan hệ gần gũi giữa giáo viên và học sinh. Gương mẫu trước học sinh: Lấy nhân cách của giáo viên làm hình mẫu về phẩm chất nhân ái, yêu thương, chia sẻ với những khó khăn của học sinh. Nêu gương học sinh điển hình trong lớp về phẩm chất nhân ái: tuyên dương những học sinh biết yêu thương, quan tâm tới mọi người xung quanh, dù cho là những hành động rất nhỏ như: giúp bạn học để cùng tiến bộ, giúp mẹ việc nhà san sẻ nỗi vất vả của mẹ, giúp đỡ những bạn gặp khó khăn, đưa cụ già qua đường Việc tuyên dương học sinh điển hình trong lớp về phẩm chất nhân ái sẽ khích lệ tinh thần của học sinh đó, tạo ra niềm vui, qua đó khuyến khích các em tiếp tục phát huy phẩm chất tốt đẹp. Những phần thưởng cũng rất nhỏ thôi nhưng có thể mang lại những hiệu quả rất tích cực. Ảnh 3: Học sinh được tuyên dương, nhận phần thưởng 14 *Phối hợp với cha mẹ học sinh để giáo dục lòng nhân ái cho các em Việc phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh phải gắn bó chặt chẽ với mục tiêu, yêu cầu cần đạt về các phẩm chất, năng lực còn lại được quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018 thì mới đạt được hiệu quả giáo dục toàn diện. Để đạt được thành công trong việc giáo dục học sinh, giáo viên cần có những kế hoạch, biện pháp, việc làm cụ thể, rõ ràng. Giáo viên cần có những biện pháp phối hợp với gia đình, phụ huynh học sinh để giáo dục các phẩm chất, năng lực cho học sinh, đặc biệt là phẩm chất nhân ái. Giáo viên cần thường xuyên cập nhật công nghệ thông tin để thông tin, liên lạc tới gia đình học sinh khi có bất cứ hành vi đạo đức nào chưa chuẩn mực.Đồng thời gia đình học sinh cần chia sẻ, phản hồi lại tình hình con em ở nhà để cùng có hướng điều chỉnh, uốn nắn. Đầu tiên, giáo viên cần phối hợp với các bậc cha mẹ quan tâm tạo điều kiện thuận lợi như giúp các em rèn luyện các nền nếp thói quen học tập, vệ sinh, mua sắm đồ dùng học tập đầy đủ, các kỹ năng tự chăm sóc cá nhân, bảo vệ bản thân, có ý thức, trách nhiệm về việc học tập, sinh hoạt của bản thân, trách nhiệm của mình với gia đình, nhà trường,... Thứ hai, cha mẹ, ông bà trong gia đình cần làm gương cho con cái về đạo đức, lối sống phù hợp với đạo đức, pháp luật, luôn quan tâm, yêu thương, theo dõi và thấu hiểu tâm lí con em mình. Phụ huynh cần chú trọng tạo dựng môi trường gia đình tràn ngập tình yêu thương, bình đẳng và trách nhiệm, tổ chức lối sống gia đình lành mạnh, các thành viên trong gia đình yêu thương, sẻ chia, gắn kết và cha mẹ, ông bà nêu gương cho con trẻ học theo, làm theo những điều tốt đẹp, có giá trị nhân văn lớn lao, tuân thủ pháp luật. Nếu con có biểu hiện chưa tốt, cần phối hợp với giáo viên chủ nhiệm và nhà trường để uốn nắn, giáo dục con kịp thời. Thứ ba, giáo viên hướng dẫn phụ huynh biết cách lấy con trẻ làm trọng tâm trong quá trình dạy dỗ, giáo dục và nghiêm túc trong việc dạy bảo con trẻ, giáo dục, rèn luyện con trẻ học hỏi tính kỷ luật, sự tôn trọng các thành viên, 15 nhất là cha mẹ, ông bà để con trẻ có thời gian luyện tập nhân cách của mình. Thứ tư, mỗi bậc cha mẹ không chỉ cần quan tâm, chăm sóc mà còn phải tôn trọng, hiểu đúng về con trẻ để việc giáo dục đúng, đạt hiệu quả. Cần phải tạo được sự gần gũi, thân mật, tin tưởng ở con trẻ, để con trẻ coi mình là những người bạn lớn mà chia sẻ tâm tư, tình cảm, diễn biến tâm lý bên trong, từ đó cha mẹ, ông bà có thể hiểu được các mối quan hệ, khát vọng, cảm xúc, suy nghĩ, nguyện vọng, mong muốn, sở thích, lo lắng, niềm vui, nỗi buồn của con trẻ,... Cuối cùng, các bậc cha mẹ cần không ngừng học hỏi, tích cực phối hợp với giáo viên tìm hiểu những tri thức khoa học, xã hội, trang bị và nâng cao kiến thức, khả năng chăm sóc, dạy dỗ và giáo dục con cái, để không chỉ góp phần tăng cường, nâng cao và phát huy được vai trò giáo dục gia đình, nhất là với các bậc cha mẹ ở khu vực nông thôn, miền núi mà còn khắc phục phương pháp giáo dục chỉ dựa trên kinh nghiệm và cảm tính. Tóm lại, sự phối hợp chặt chẽ ba môi trường giáo dục trên, đặc biệt là giữa nhà trường (đại diện là giáo viên chủ nhiệm) với phụ huynh học sinh là vô cùng quan trọng trong việc giáo dục nhân cách, phẩm chất đạo đức của trẻ, cụ thể là lòng nhân ái. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng răn dạy: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” nhằm đề cao việc giáo dục đạo đức cho con người mà lòng nhân ái là phẩm chất cơ bản nhất để hình thành nhân cách và lòng thiện lương của con người. Bởi vậy, việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục phẩm chất nhân ái cho học sinh là vấn đề cơ bản hàng đầu mà tất cả các lực lượng giáo dục phải phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động phối hợp vì mục tiêu giáo dục đào tạo thế hệ trẻ thành những người công dân hữu ích cho đất nước. III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 1. Kết quả khi áp dụng các biện pháp Trong năm học 2022-2023, tôi đã áp dụng các biện pháp trên vào thực tế công tác chủ nhiệm. Kết quả đạt được như sau: 16 Thời điểm Số HS có hành Số HS có hành Số HS chưa có khảo sát động nhân ái với động nhân ái với hành động bạn trong lớp bạn trong lớp nhân ái nhưng chưa thường xuyên SL % SL % SL % 9/2022 10 33,33 15 50 5 16,67 4/2023 24 80 6 20 0 0 ( + ) ( - ) ( - ) 46,67 % 30% 16,67% * Những hành vi đạo đức của các em có hướng chuyển biến tốt: - Số học sinh có hành động nhân ái với bạn trong lớp tăng 46,67%. Các em đã vâng lời ông bà, cha mẹ,biết chia sẻ với những hoàn cảnh khó khăn. Đồng thời, các em đoàn kết, giúp đỡ nhau trong học tập, hòa đồng chơi cùng các bạn, không còn chia nhóm chơi. - Số HS có hành động nhân ái với bạn trong lớp nhưng chưa thường xuyên giảm 30 %. Các em biết tôn trọng sự khác biệt của bạn bè trong lớp về cách ăn mặc, tính nết và hoàn cảnh gia đình.Nhờ đó mà học lực của các em cũng tiến bộ hơn, không còn trêu ghẹo các bạn nữ nữa. 2. Ứng dụng Năm học 2022 - 2023, áp dụng kinh nghiệm vào thực tế công tác chủnhiệm ởlớp 2, tôi thấy các em có sự tiến bộ rõ rệt trong hành vi đạo đứccủa mình. Các biện pháp trên có tính khả thi, có thể áp dụng vào thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp. Tôi thiết nghĩ các biện pháp này có thể áp dụng đối với tất cả các khối lớp khác trong và ngoài nhà trường. 17 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận 1.1. Ý nghĩa của biện pháp Giáo dục lòng nhân ái không chỉ có ý nghĩa về mặt giáo dục đạo đức mà góp phần quan trọng trong việc nâng cao kết quả học tập. Sự chia sẻ tài liệu môn học giữa các học sinh trong lớp; sự trao đổi cởi mở về bài học; sự tận tình giảng bài cho bạn;... là những nhân tố quan trọng trong việc hình thành phong trào thi đua học tập trong lớp. Đồng thời, chất lượng công tác chủ nhiệm lớp cũng được nâng cao. Khi lòng nhân ái thật sự được hình thành ở mỗi cá nhân học sinh thì lớp học sẽ trở thành ngôi nhà chung của mọi sự khác biệt và mỗi ngày đến lớp sẽ là một ngày vui. Những học sinh chưa có hoặc có ít hành động thể hiện sự nhânái cũng dần thay đổi hành vi, tính cách để phù hợp với bạn bè trong lớp. Tôi đã làm công tác chủ nhiệm bằng cả trách nhiệm của một giáo viên nhiệt tình và bằng tất cả tình cảm của một người mẹ. Những học sinh có lòng nhân ái sẽ không chỉ là những đứa con ngoan, hiếu thảo, những người bạn tốt biết chia sẻ mà hơn hết các em sẽ trở thành những học sinh luôn biết phấn đấu trong học tập và tu dưỡng để làm hài lòng thầy cô và bố mẹ. Việc hình thành lòng nhân ái cho học sinh sẽ đem lại hiệu quả to lớn về nhiều mặt giáo dục. Các em học sinh sẽ tự hoàn thiện mình; Nhà trường sẽ có một không gian văn hóa đúng mực; Phụ huynh học sinh sẽ luôn có niềm tin với giáo viên chủ nhiệm và nhà trường, góp phần làm giảm bớt tệ nạn ngoài xã hội.Đó chính là thành quả lớn nhất mà tôi đạt được khi tìm tòi, nghiên cứu biện pháp phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 2. 1.2. Bài học kinh nghiệm Sau khi áp dụng biện pháp, tôi rút ra được bài học kinh nghiệm như sau: 18 - Giáo viên cần xác định rõ phẩm chất nhân ái là một phẩm chất độc lập trong 5 phẩm chất của chương trình giáo dục phổ thông 2018. Phẩm chất này có ý nghĩa đặt biệt quan trọng trong việc hình thành nhân cách sống vì mọi người của mỗi học sinh. Từ đó có kế hoạch giáo dục cụ thể, chính xác đến đối tượng học sinh trong lớp mà mình chủ nhiệm. - Cần lựa chọn những nội dung mang tính thực tiễn và phù hợp với lứa tuổi lớp 2 để lồng ghép trong chương trình dạy học sẽ đạt hiệu quả nhất. Bởi những hành động từ thực tiễn đó sẽ là động lực, là niềm tin cho các em học tập, noi gương và làm theo từ những việc nhỏ phù hợp với bản thân mình. - Cần nghiên cứu cứu kĩ chương trình, thời gian để tích hợp các nội dung một cách hợp lí, tránh làm dụng làm ảnh hưởng đến những môn học khác. - Cần xây dựng mối quan hệ mật thiết với cha mẹ học sinh để cùng hợp tác giáo dục học sinh. Bởi ở lứa tuổi tiểu học nói chung, lớp 2 nói riêng, mọi nền nếp sinh hoạt trong gia đình đều ảnh hưởng trực tiếp đến tâm sinh lí của các em. - Giáo viên cần học tập, rèn luyện kĩ năng, chuyên môn nghiệp vụ để theo kịp sự đổi mới và phát triển của xã hội, nhất là công nghệ thông tin. Bởi khi xã hội đã chuyển sang giai đoạn hiện đại hoá, công nghệ số thì giáo viên không giỏi công nghệ thông tin sẽ không đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. 2. Kiến nghị 2.1.Đối với gia đình - Ban đại diện cha mẹ học sinh cần có kế hoạch phối hợp với các gia đình cùng giáo dục con em mình. - Tác động trực tiếp đến các gia đình hạn chế cho con em xem giải trí thiếu lành mạnh tên các kênh truyền thông, Internet, - Tôn trọng và phối hợp với giáo viên chủ nhiệm đê cùng giáo dục con em mình. 2.2. Đối với cấp quản lí 19 - Ban Giám hiệu tổ chức các hội thảo dành cho phụ huynh học sinh với nội dung giáo dục lòng nhân ái cho con em. - Nhà trường cần thường xuyên tổ chức những buổi thảo luận trao đổi về chủ đề ứng xử cho học sinh: đưa ra các tình huống cụ thể thường gặp trong cuộc sống để các em tự rút ra bài học, kinh nghiệm cho bản thân. Tổ chức các trò chơi, các cuộc thi để hướng học sinh vào những hoạt động lành mạnh, tránh xa tệ nạn và các hành vi bạo lực ngoài xã hội... Trên đây là biện pháp“Một số biện pháp phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 2” mà bản thân tôi trong quá trình làm công tác chủ nhiệm đã nghiên cứu, tìm tòi và áp dụng. Tuy nhiên do thời gian và năng lực có hạn chắc hẳn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong Hội đồng khoa học sáng kiến các cấp, Ban giám hiệu nhà trường và anh chị em đồng nghiệp góp ý, chia sẻ để sáng kiến của cá nhân tôi ngày một hoàn thiện và ứng dụng dài lâu trong công tác chủ nhiệm. Tôi xin chân thành cảm ơn./. 20 Tài liệu tham khảo 1. Thông tư 32/2018/QĐ-BGDĐT, ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình giáo dục phổ thông. 2. Công văn 2345/BGDĐT- GDTH ngày 07 tháng 06 năm 2021 của BộGiáo dục & Đào tạo về việc Hướng dẫn xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường cấptiểu học. 3. Nguyễn Minh Thuyết (Tổng chủ biên kiêm Chủ biên), Tiếng Việt 2, tập 1, NXB ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh. 4. Nguyễn Minh Thuyết (Tổng chủ biên kiêm Chủ biên), Tiếng Việt 2, tập 2, NXB ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh. 5. Trần Văn Thắng (Tổng chủ biên), Đạo đức 2, NXB ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh. 6. Nguyễn Dục Quang (Tổng chủ biên), Hoạt động trải nghiệm 2, NXB ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh. 7. Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. 8. Phương pháp dạy học các môn học ở Tiểu học, NXB Giáo dục, 2007. 9. Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT: Quy định đánh giá học sinh tiểu học từ 20/10/2020
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_phat_trien_pham_chat_nhan_ai_cho_hoc_sinh_l.pdf



